|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 161/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi
con chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng
Bà Phạm Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 121/2024/HNGĐ-TLST ngày 19/3/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2024/QĐ-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa:
-
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh ngày 21/11/1982.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Người được chị H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số C đường Đ, phường B, thành phố H.
-
Bị đơn : Anh Vũ Văn L, sinh ngày 13/8/1982.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Hoàng Sơn, xã Thái Dương, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
( Chị H, anh L đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn L tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 20/9/2003. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do năm 2019 anh L đi nước ngoài lao động, đã thay đổi tính nết thiếu sự quan tâm đến vợ con, hai bên không tìm thấy tiếng nói chung. Cuối năm 2023 anh L có về Việt Nam để lo đám cưới cho con, chị đã khuyên bảo anh L ở lại Việt Nam để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung, nhưng anh L không đồng ý mà tiếp tục bỏ đi Đài Loan, dẫn đến mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về quan hệ con chung : Chị và anh L có 2 con chung là Vũ Thị N, sinh ngày 16/6/2004 và Vũ Thị Hằng M, sinh ngày 13/01/2011, hiện nay cháu N đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu M hiện ở với chị, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Hiện nay anh L đang ở nước ngoài, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết tài sản.
Anh Vũ Văn L hiện đang lao động tại Đài Loan, do chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh L nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh L thông qua gia đình. Cháu Vũ Thị N là con gái của anh L xác định, cuối năm 2019 bố cháu đi Đài Loan lao động, từ khi đi bố cháu về Việt Nam 2 lần, lần về Việt Nam gần nhất vào tháng 11/2023 để dự đám cưới của cháu. Địa chỉ bố cháu ở nước ngoài hiện gia đình cháu không biết, nhưng bố cháu vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình bằng điện thoại. Cháu N đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh L biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh L đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Anh và chị H không tìm được tiếng nói chung. Tuy nhiên do các con đã lớn, anh mong muốn chị H suy nghĩ lại, rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung. Nếu chị H kiên quyết ly hôn, anh cũng đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị H. Về quan hệ con chung: Anh và chị H có 2 con chung là Vũ Thị N, sinh ngày 16/6/2004 và Vũ Thị Hằng M, sinh ngày 13/01/2011. Hiện nay cháu N đã trưởng thành, ly hôn không đề nghị giải quyết. Do đang ở nước ngoài nên anh đồng ý để chị H nuôi cháu M. Về tài sản chung, nợ chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện không thể Việt Nam để giải quyết ly hôn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho con gái là Vũ Thị Ngọc n thay anh các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Cháu Vũ Thị Hằng M là con chung của chị H, anh L có quan điểm được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị H được ly hôn anh L. Về con chung: Giao con chung Vũ Thị Hằng M, sinh ngày 13/01/2011 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Do các bên không đề nghị, nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L đều có Hộ khẩu thường trú tại: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Hiện anh L đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh L tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh L cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh L được biết, anh L thường xuyên liên lạc với con gái là Vũ Thị N. Cháu N đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh L biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Chị H, anh L đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 20/9/2003, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên mất niềm tin dẫn đến bất đồng quan điểm. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh L. Quá trình giải quyết vụ án, anh L cũng có quan điểm xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh mong muốn chị H suy nghĩ để rút đơn ly hôn. Trường hợp chị H kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
- Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L có hai con chung là Vũ Thị N, sinh ngày 16/6/2004 và Vũ Thị Hằng M, sinh ngày 13/01/2011. Hiện nay cháu N đã trưởng thành nên chị H không đề nghị xem xét, do cháu M hiện đang ở với chị nên ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con. Thông qua gia đình anh L cũng có quan điểm đồng ý để chị H nuôi cháu M. Xét thấy, hiện tại anh L đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu M từ nhỏ được mẹ chăm sóc, cháu được học tập và phát triển tốt. Do đó cần tiếp tục giao cháu M cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn L.
-
Về quan hệ con chung: Giao con Vũ Thị Hằng M, sinh ngày 13/01/2011 cho chị Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Vũ Văn L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000519 ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Vũ Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 161/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 161/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
