Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024HSST

Ngày: 28/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân.
  2. Ông Huỳnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2024/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Ngọc T, sinh ngày 02/8/1994. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Ấp X, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Phước C và bà Lương Hà X; Anh chị em ruột có 03 người (kể cả bị cáo), bị cáo có chồng tên Hồ Mạnh C1, có 06 con; lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án: Ngày 23/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án án số: 126/2019/HS-ST, bị cáo chưa chấp hành án (hoản) do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, Huỳnh Ngọc T điều khiển xe gắn máy biển số: 59G1-681.81 từ nhà đến khu vực gần nghĩa trang T1 thuộc xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, T gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý. T giao cho người thanh niên số tiền 500.000 đồng và nhận 01 gói nylon chứa ma túy đá cất giấu vào trong túi áo bên trái phía trước ngực của T đang mặc rồi điều khiển xe đi về, khi đến đường P thuộc ấp C, xã P, huyện C thì bị lực lượng Công an xã P phát hiện bắt quả tang vào lúc 13 giờ 20 phút cùng ngày.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Huỳnh Ngọc T tại địa chỉ ấp X, xã N, huyện C, TP HCM . không thu giữ gì.

Kết luận giám định số 681/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5533g loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKS.CC ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị can Huỳnh Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc T thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 155/CT-VKS.CC ngày 29/5/2024 nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, không oan sai gì cho bị cáo và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuy nhiên khi lượng hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết sau:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa chấp hành án đối với bản án số : 126/2019/HS-ST, ngày 23/8/2019, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Ngọc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tổng hợp hình phạt tù của bản án này với hình phạt tù của bản án 126/2019/HS-ST để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 240/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên.
  • + Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (Một) xe gắn máy biển số: 59G1-68181, số máy: 5C6H-198374, số khung: RLCS5C6HOGY198364 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung số Imell: 355726097316757/01, số I: 355726097316755/01.

Bị cáo T không tham gia tranh luận.

Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố, cụ thể:

Ngày 29/12/2023, Huỳnh Ngọc T có hành vi mua 500.000 đồng ma túy của một người thanh niên (không rõ lai lịch) tại khu vực gần nghĩa trang T1 thuộc xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng, khi về đến đường P thuộc ấp C, xã P, huyện C thì bị lực lượng Công an xã P phát hiện bắt quả tang. Qua giám định số ma túy thu giữ của bị cáo T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5533g, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bằng những hành vi trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm

và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn có tiền mua chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghiện ma túy và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án theo bản án số: 126/2019/HS-ST, ngày 23/8/2019, chưa chấp hành án phạt tù nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Ngọc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 240/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên, là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
  • - 01 (Một) xe gắn máy biển số: 59G1-68181, số khung: RLCS5C6HOGY198364; số máy: 5C6H-198374 là tài sản của bị cáo T mua lại của người lạ mặt chưa sang tên, qua xác minh ông Lâm Đức H đứng tên chủ sở hữu nhưng ông H đã bán chiếc xe trên cho người không rõ lai lịch, ông không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo truy tìm nhưng đến nay không ai đến để giải quyết, bị cáo dùng làm phương tiện mua chất ma túy, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo T sẽ giải quyết bắng vụ tranh chấp khác là phù hợp.
  • - 01 (Một) biển số: 59G1-68181, qua xác minh là biển số xe do bà Lê Huỳnh N đứng tên chủ sở hữu nhưng bà N đã bán chiếc xe có biển số trên cho người không rõ lai lịch, bà không có yêu cầu gì đối với biển số xe trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo truy tìm nhưng đến nay không ai đến để giải

quyết, bị cáo dùng làm phương tiện mua chất ma túy, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo T sẽ giải quyết bắng vụ tranh chấp khác là phù hợp.

  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung số Imel 1: 355726097316757/01; số Imel 1: 355726097316755/01, là tài sản của bị cáo T, bị cáo dùng để liên lạc với gia đỉnh, không dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên bị cáo không nhận lại, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 lẽ ra cần phải phạt bị cáo T một số tiền để nộp vào Ngân sách Nhà nước, tuy nhiên xét thấy bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn, có 06 con nhỏ, mua chất ma túy để sử dụng không có thu lợi bất chính nên không phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với đối tượng tên bán ma túy cho T (Chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm, đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện C thống nhất, Hội đồng xét xử xét thấy xử lý trên là phù hợp nên không xét.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Huỳnh Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 02 (hai) năm tù.

Căn cứ Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tổng hợp hình phạt của bản án 02 (hai) năm tù với hình phạt của bản án số: 126/2019/HS-ST ngày 23/8/2019 là (02 (hai) năm tù. Tổng cộng buộc bị cáo T chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023, khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ 02 (hai) ngày (từ ngày 25/2/2019 đến ngày 27/2/2019).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 240/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 biển số 59G1-68181.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe gắn máy có số khung: RLCS5C6HOGY198364; số máy: 5C6H-198374, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo sẽ giải quyết bằng vụ tranh chấp khác.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung số Imel 1: 355726097316757/01; số Imel 1: 355726097316755/01.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc các bị cáo: Huỳnh Ngọc T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. H;
  • - VKSND TP. H;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024HSST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 161/2024HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger