Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vỵ

Bà Hoàng Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 142/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn H (tên gọi khác: H điên); sinh ngày: 23/6/1995 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; Căn cước công dân số [...]; Nơi thường trú: Phòng 303, tầng 3 nhà B khu chung cư P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D (Đ), đã chết và bà Nguyễn Thị H1 (H2). Gia đình có 10 anh em ruột, bị cáo là con thứ 6; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; Có 02 tiền án: Ngày 28/3/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích", tổng hợp hình phạt 06 năm 06 tháng tù theo Bản án số: 57/2013/HSST; Ngày 24/3/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 16/2021/HSST. Về nhân thân: Ngày 06/12/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 29/2011/HSST; Ngày 14/8/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 18/2012/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2023 cho đến nay; có mặt.
  2. Phạm Văn D1 (tên gọi khác: Đầm); sinh ngày: 01/10/2000 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; Căn cước công dân số: [...]; Nơi thường trú: 306 Khu F, Chung cư P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị Hứa. Gia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con út; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; Có 01 tiền án: Ngày 25/8/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số: 95/2021/HSPT. Về nhân thân: Ngày 14/8/2015, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2023 cho đến nay; có mặt.
  3. Hoàng Thị Minh T; sinh ngày: 30/6/1999 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; Căn cước công dân số: [...]; Nơi thường trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng S và bà Phan Thị Tuyết .1 Gia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con đầu; có chồng là Phan Thiện T1, sinh năm: 1997 và có 01 người con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Trần Thị Hương H3, sinh năm: 1970; Địa chỉ: 0 P, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ C, khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn A, sinh năm: 1998; Địa chỉ: P, tầng C nhà B khu chung cư P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  3. Chị Phạm Thị Á, sinh năm: 1996; Địa chỉ: 2 C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 0 giờ 05 phút sáng ngày 14/10/2023, Lê Văn H rủ Phạm Văn D1 đi tìm nhà dân trộm cắp tài sản thì D1 đồng ý. H điều khiển xe mô tô Exciter, biển số 75C1-238.10 chở D1 đi đến khu vực phường K, thành phố H để tìm kiếm nhà dân sơ hở tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà chị Trần Thị Hương H3 ở 0 P, phường K, thành phố H, phát hiện nhà có khóa cổng nhưng cửa trong nhà không khóa; H dừng xe lại xuống xe bảo D1 đứng ngoài canh gác để H vào trong tìm tài sản. D1 đứng ngoài canh gác, H đột nhập vào cửa chính nhìn thấy 03 người đang nằm ngủ, H đi ra phía sau bếp thấy trên bàn có 720.000 đồng thì lấy cất giấu vào người, sau đó H quay lại cửa chính thấy trên ghế salon có 04 điện thoại đi động nên đã lấy cả 04 chiếc điện thoại gồm: 01 I Phone 12 Promax, 01 điện thoại OPPO A12, 01 điện thoại Samsung J4 màu đen và 01 điện thoại Samsung rồi đi ra theo hướng đã đột nhập. H điều khiển xe chở D1 về phòng trọ của H ở xóm B, L, phường P, thành phố H. Tại phòng trọ có D1, H và bạn gái của H tên là Hoàng Thị Minh T đem tài sản đã trộm được bỏ trên giường rồi H đi ra ngoài, D1 và và T ngồi tại giường kiểm tra điện thoại; Dự kiểm tra một cái điện thoại Oppo thấy sau ốp có 1.000.000 đồng. Tổng số tiền trộm được 1.720.000 đồng, D1 lấy 600.000đồng, số tiền còn lại H và T tiêu xài cá nhân hết.

Đến 08 giờ cùng ngày, H gọi T dậy đi bán các điện thoại trộm cắp được. H điều khiển xe mô tô Exciter, biển số 75C1-238.10 chở T đến tiệm mua bán điện thoại tại B Đ, phường T, thành phố H. Tại đây, T mang 04 điện thoại di động vào gặp Bùi Văn C (B) là chủ quán. Côn không biết các tài sản do trộm cắp mà có nên đã mua 04 điện thoại di động với giá 6.600.000 đồng. T yêu cầu anh C chuyển khoản 4.000.000 đồng vào tài khoản Lê Văn H, T nhận 2.600.000 đồng tiền mặt. Sau khi bán xong, H chở T về về lại phòng gặp D1 và báo lại đã bán điện thoại được 1.300.000 đồng, chia cho Dự 500.000 đồng. Số tiền còn lại H và T tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 228/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định:

  • 01 điện thoại di động I Phone 12 Pro max, 128Gb đã qua sử dụng, trị giá 6.500.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động Oppo A12, màu xanh, đã qua sử dụng, trị giá 1.200.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động S1 A4, màu đỏ, đã qua sử dụng, trị giá 1.000.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động Oppo A7 đã bị hỏng, trị giá 100.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô Exciter, biển số 75C1-238. 10, màu đen, số máy G3D4E5514328, số khung: 0610HY492413.
  • Tiền ngân hàng N 4.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 4.000.000 đồng cho chị Trần Thị Hương H3. Đối với xe mô tô Exciter, biển số 75C1-238.10 là vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ công tác truy tố, xét xử.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Hương H3 đã nhận lại 4.000.000 đồng từ cơ quan điều tra và 5.000.000 đồng từ gia đình Lê Văn H, nhận 4.000.000 đồng từ gia đình Phạm Văn D1, nhằm khắc phục hậu quả. Chị H3 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 144/CT-VKSTPH ngày 11-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; truy tố Phạm Văn D1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố Hoàng Thị Minh T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Văn D1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 323, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Thị Minh T từ 06 đến 07 tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho anh Nguyễn Văn A 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen, biển số 75C1-238.10, số máy: G3D4E514328, số khung: 0610HY492413, đã qua sử dụng. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[1.2] Tại phiên tòa, bị hại bà Trần Thị Hương H3 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập lời khai của bà H3, bà cũng không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự; căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Xét hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 0 giờ 05 phút sáng ngày 14/10/2023, Lê Văn H rủ Phạm Văn D1 đi tìm nhà dân trộm cắp tài sản thì D1 đồng ý. H điều khiển xe mô tô Exciter biển số 75C1-238.10 chở Dự đến nhà chị Trần Thị Hương H3 tại 0 đường P, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây, H bảo D1 đứng ngoài cảnh giới; H đột nhập vào trong nhà và đã lén lút chiếm đoạt của chị H5 số tiền mặt 720.000đồng; 04 chiếc điện thoại gồm: 01 IPhone 12 Promax, 01 điện thoại OPPO A12, 01 điện thoại Samsung J4 màu đen; 01 điện thoại Samsung và 1.000.000đồng bên trong ốp điện thoại. 04 chiếc điện thoại chiếm đoạt qua định giá có giá trị 8.800.000đồng. Tổng số tiền và tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị 10.520.000đồng.

Đến 08 giờ cùng ngày, Lê Văn H điều khiển xe mô tô Exciter biển số 75C1-238.10 chở Hoàng Thị Minh T đến tiệm mua bán điện thoại tại B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế để bán 04 chiếc điện thoại trên cho Bùi Văn C với giá 6.600.000đồng rồi chia nhau tiêu xài.

Bị cáo Lê Văn H có 02 tiền án về tội Cố ý gây thương tích và tội Trộm cắp tài sản. Trong đó tiền án vào năm 2021 về tội Trộm cắp tài sản đã xác định bị cáo “Tái phạm nguy hiểm”; ngày 08/02/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi lần này của Lê Văn H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn D1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hoàng Thị Minh T không bàn bạc, không biết trước việc H và D1 trộm cắp tài sản, nhưng sau khi biết 04 chiếc điện thoại là tài sản do H và D1 trộm cắp mà có, T vẫn cùng H đưa các tài sản này đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Hành vi của Hoàng Thị Minh T đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Văn D1 có 01 tiền án vào năm 2021 về tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này, bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Văn H và Hoàng Thị Minh T không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Lê Văn H và Phạm Văn D1 trong các giai đoạn tố tụng đều thành khẩn khai báo; đã bồi thường để khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bản tính lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, Lê Văn H và Phạm Văn D1 là đồng phạm về tội Trộm cắp tài sản, trong đó bị cáo H là người rủ rê, thực hành tích cực; bị cáo D1 có vai trò giúp sức; cả hai bị cáo đều đã bị kết án, chưa xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa chữa mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo T biết rõ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là giao dịch trái pháp luật, tiếp tay cho các đối tượng phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện; sau khi phạm tội T đã bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về xử lý vật chứng:

Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 4.000.000 đồng cho chị Trần Thị Hương H3 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với xe mô tô Exciter biển số 75C1-238.10: Xe này do anh Nguyễn Văn A là chủ sở hữu hợp pháp cho Lê Văn H mượn làm phương tiện đi lại. Qua điều tra và tại phiên tòa đã xác định anh A không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho anh A theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Trần Thị Hương H3 đã nhận lại tiền bồi thường từ gia đình các bị cáo H và D1 nhằm khắc phục hậu quả. Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C đã mua tài sản của H và D1 trộm cắp nhưng không biết các tài sản đó do phạm tội mà có nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự. Anh C đã có đơn trình bày không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã mua điện thoại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Văn A và chị Phạm Thị Á là những người đã bồi thường dân sự cho bị hại thay cho các bị cáo H và D1. Tại phiên tòa, anh A và chị Á không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc các bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn D1 và Hoàng Thị Minh T mỗi người phải chịu 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn H và Phạm Văn D1 phạm tội “Trộm cắp tài sản; bị cáo Hoàng Thị Minh T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/10/2023.

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn D1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/10/2023.

    Căn cứ khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Minh T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 17/02/2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Trả lại cho anh Nguyễn Văn A 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen, biển số 75C1-238.10, số máy: G3D4E514328, số khung: 0610HY492413, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn D1 và Hoàng Thị Minh T mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - VKSND thành phố Huế
  • - CA thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo; bị hại; người có ql&nvlq;
  • - THAHS;
  • - Lưu: HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Như Thuần

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger