|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 115/2025/HS-ST Ngày: 28-05-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thanh Kỳ;
Ông Nguyễn Văn Đoàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Định quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Định Quán xét xử công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (B5) gồm bị cáo: Vũ Hữu T, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ. Đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo: Vũ Hữu T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Khu dân cư A, ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Không có; Con ông Vũ Văn T1; Con bà Hoàng Thị Q; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2025 đến nay. (Có mặt)
Người làm chứng:
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 2006. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Anh Trần Văn T3, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 23/01/2025, Công an xã P kiểm tra chỗ ở của Vũ Hữu T, sinh năm 1994, tại ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện 01 đoạn ống nhựa màu đen, bên trong chứa ma túy (loại đá), cất giấu trong phòng ngủ. Qua làm việc, T khai nhận đây là ma túy đá của T, còn dư sau khi T cùng sử dụng với Trần Xuân T4, sinh năm 2006 và Trần Văn T3, sinh năm 2000. Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời, triệu tập T4 và T3 để làm rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra xác định:
Sáng ngày 19/01/2025, T sử dụng số điện thoại 0822.121.xxx (đăng nhập zalo tên “Tài Khoản Bị Khóa”) để gọi điện qua zalo cho một người đàn ông tên “T5” (tài khoản zalo tên “Hắc”) hỏi mua thiếu của T5 một gói ma túy đá, với số tiền 200.000đ. T5 đồng ý bán và hẹn T đến đoạn đường vắng thuộc ấp B, xã P, huyện Đ để lấy ma túy. Ma túy mua được, T mang về cất giấu trong phòng ngủ.
Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 23/01/2025, Trần Văn T2 đi cùng Trần Văn T3 (Thích, T2 là hai anh em ruột, cùng trú tại ấp B, xã P, huyện Đ và đều những người sử dụng ma túy loại Methaphetamine) đến nhà T, tại đây T2 (làm nghề xăm hình) xăm chân cho T còn T3 ngồi chơi. Do xăm bị đau, nên T rủ T2 và T3 cùng sử dụng ma túy, T2 và T3 đồng ý. Sau đó, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, rồi dùng kéo cắt gói mua túy (mới mua được trước đó), đổ một nửa vào nỏ thủy tinh, số ma túy còn dư T dùng quẹt lửa hàn kín lại và bỏ vào túi quần. T dùng hộp quẹt lửa đốt cho nóng đáy nỏ thủy tinh để ma túy hóa hơi, rồi T sử dụng trước, chuyền lại cho T3 và T2 cùng sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1976 (là mẹ ruột của T) đi làm về, sợ mẹ phát hiện nên T cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy và gói ma túy còn dư trong phòng ngủ, còn T2 và T3 đi về. Sau đó, do T đập phá tài sản trong nhà nên bà Q đến Công an xã P trình báo về việc Tùy hủy hoại tài sản gia đình. Đến 16 giờ 30 cùng ngày, Công an xã P kiểm tra phát hiện, bắt quả tang T đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, qua kiểm tra, cơ quan Công an đã phát hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như đã nêu trên của Tùy.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 đoạn ống hút nhựa màu đen, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 nỏ thủy tinh), bên trong nỏ thủy tinh còn bám dính tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, được cắt nhọn một đầu; 01 kéo kim loại; 01 hộp quẹt màu vàng; 01 điện thoại di động, hiệu oppo màu đen, số Imel: 357631050151072, số sim 0822.121.420.
*Kết quả giám định chất ma túy:
Căn cứ Kết luận giám định số : 219/KL-KTHS ngày 27/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh Đ, kết luận :
- + Mẫu tinh thể màu trắng trong đoạn ống hút nhựa màu đen (M1) thu giữ của Vũ Hữu T là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng 0,0605 gam.
- + Mẫu chất màu trắng bám dính trong nỏ thủy tinh (M2) thu giữ của Vũ Hữu T là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định khối lượng.
Đối với Trần Xuân T4 và Trần Văn T3: Vào ngày 23/01/2025, T4 và T3 đến nhà của Vũ Hữu T thì được T cung cấp địa điểm, ma túy và dụng cụ, tổ chức cho T4 và T3 cùng sử dụng ma túy. T4 và T3 là người được cung cấp ma túy cho sử dụng, không bàn bạc, không góp tiền, không giúp sức trong việc sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Công an xã P đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T4 và T3 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, xử phạt mỗi người số tiền 1.500.000đ.
Đối với đối tượng tên “T5” – là người bán ma túy cho bị cáo Vũ Hữu T. Quá trình điều tra, không xác định được chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 0,0605 gam ma túy loại Methamphetamine của T không đủ khối lượng để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại Cáo trạng số 127/CT-VKSNT, ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo: Vũ Hữu T tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Hữu T 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu oppo màu đen, số Imel: 357631050151072, số sim 0822.121.420; Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong sau giám định số 219/KL-KTHS ngày 27/01/2025, của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh được cắt nhọn một đầu; 01 kéo kim loại; 01 hộp quẹt màu vàng, là dụng cụ để bị cáo dùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của người làm chứng đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào thời gian từ 14 giờ đến 15 giờ ngày 23/01/2025, tại nhà của Vũ Hữu T, thuộc khu dân cư A, ấp C, xã P, huyện Đ, Đồng Nai, Vũ Hữu T đã có hành vi cung cấp ma tuý, địa điểm sử dụng, công cụ sử dụng cho bản thân và Trần Xuân T4, Trần Văn T3 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, có đầy đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Vũ Hữu T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết “Đối với 02 người trở lên”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý Nhà nước về ma túy vì ma túy là loại độc dược, gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đều có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng phạt, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Cần tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu oppo màu đen, số Imel: 357631050151072, số sim 0822.121.420, là phương tiện của bị cáo dùng liên lạc mua ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Cần tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong sau giám định số 219/KL-KTHS ngày 27/01/2025, của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh được cắt nhọn một đầu; 01 kéo kim loại; 01 hộp quẹt màu vàng, là dụng cụ để bị cáo dùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
[7] Về tội danh, điều luật và hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
[10] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo: Vũ Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Hữu T: 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/01/2025.
-
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu oppo màu đen, số Imel: 357631050151072, số sim 0822.121.420.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong sau giám định số 219/KL-KTHS ngày 27/01/2025, của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh được cắt nhọn một đầu; 01 kéo kim loại; 01 hộp quẹt màu vàng.
(Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo quyết định chuyển vật chứng số 220/QĐ-VKS- HS ngày 14/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 5 năm 2025)
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Vũ Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Vũ Hữu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |
Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 115/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
