Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày 06-12-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tạ Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Quý

Bà Phạm Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Thanh T, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2002 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Tô Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 10-8-2021 bị Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 404/QĐ-UBND (đã được xóa); ngày 02-8-2024 bị Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 9.500.000 đồng về hành vi điều khiển xe không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển, điều khiển xe gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe, điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh dưới 175cm³ không có Giấy phép lái xe; điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy (bị cáo chưa nộp phạt); bị tạm giữ từ ngày 01-6-2024, tạm giam từ ngày 04-6-2024 đến nay; có mặt.

2. Phương Văn T3, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội Bộ C cấp ngày 14-9-2021; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Văn L (đã chết) và bà Lộc Thị M; vợ: Nguyễn Thị Ì và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12-6-2024 bị Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh L khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép; bị tạm giữ từ ngày 01-6-2024, tạm giam từ ngày 04-6-2024 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Mạnh T4, sinh năm 2000; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Mạnh T4: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1972; có mặt.

2. Bà Tô Thị T2, sinh năm 1972; có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn;

3. Chị Nguyễn Thị Ì, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Văn B; vắng mặt.

2. Anh Vi Văn T5; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Triệu Văn D; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 01-6-2024 tại khu vực đường đôi dẫn vào khu đô thị N, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Công an xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang bị cáo Trần Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 12P1-9901 và bị cáo Phương Văn T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12P1-187.99 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi 02 bị cáo trên dừng xe thì hai đối tượng M1 và H ngồi sau xe do bị cáo Trần Thanh T điều khiển bỏ chạy. Tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo Trần Thanh T 02 gói giấy có dòng kẻ (kích thước lần lượt 1,5x02cm và 1,5x01cm) và thu trong túi quần sau bên trái của bị cáo Trần Thanh T 01 túi nilon màu trắng (kích thước 04x07cm) đều chứa chất bột màu trắng; thu giữ trong túi quần sau bên trái của bị cáo Phương Văn T3 01 gói giấy có dòng kẻ (kích thước 01cmx1,5cm), bên trong chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của bị cáo Trần Thanh T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 12P1-9901 (số máy JA39E-1535505, số khung RLHJA391XLY197649); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI1 867366042308236, IMEI 2 867366042308228 lắp kèm 02 sim số 0862.229.159 và 0337.763.063; tiền Việt Nam 620.000 đồng và tạm giữ của bị cáo Phương Văn T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 12P1-187.99 (số máy 5A39E-0090798, số khung RLHJA3909HY090753); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 867143060063294, IMEI2:867143060063286 lắp kèm sim số 0349.582.846.

Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể xác định các bị cáo Trần Thanh T và Phương Văn T3 đều dương tính với chất ma túy MOR.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Thanh T và Phương Văn T3 khai nhận có mối quan hệ quen biết xã hội do đều là đối tượng nghiện chất ma tuý Heroin. Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 01-6-2024, bị cáo Trần Thanh T điều khiển xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 12P1- 9901 từ nhà đến thành phố L để mua ma tuý H1 sử dụng. Trên đường đi, bị cáo Trần Thanh T nhận được điện thoại của bị cáo Phương Văn T3 gọi đến trao đổi thống nhất nhờ bị cáo Trần Thanh T mua hộ 200.000 đồng ma tuý H1, bị cáo Phương Văn T3 chuyển tiền từ tài khoản số 8404231070150 (ngân hàng A) của bị cáo Phương Văn T3 đến tài khoản số 9862229159 (ngân hàng V) cho bị cáo Trần Thanh T 500.000 đồng (gồm 200.000 đồng mua ma tuý Heroin và 300.000 đồng trả khoản nợ vay bị cáo Trần Thanh T trước đó). Đến khu vực ngã tư C - Quốc lộ A thuộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Trần Thanh T đưa 400.000 đồng nhờ được một người đàn ông làm xe ôm (không rõ lai lịch) mua hộ ma túy, thỏa thuận địa điểm giao ma túy tại khu vực miếu T6 trong khu đô thị N, xã H, thành phố L. Bị cáo Trần Thanh T gọi điện thoại báo cho bị cáo Phương Văn T3 đến khu vực đường đôi trong khu đô thị N giao nhau với đường N gặp bị cáo Trần Thanh T nhận ma túy và chuẩn bị đến chỗ hẹn thì gặp M1 và H (không rõ lai lịch) là bạn nghiện ma túy đi bộ đến, bị cáo Trần Thanh T rủ và chở hai người này ngồi sau xe đi cùng đến địa điểm như đã hẹn với bị cáo Phương Văn T3 nêu trên, bị cáo Trần Thanh T dừng xe lại bảo M1 và H xuống xe đợi còn bị cáo Trần Thanh T một mình đi vào khu vực Miếu T6 gặp và nhận với người đàn ông làm nghề xe ôm 01 (một) gói nilon đựng 03 (ba) gói giấy kẻ ô ly đều chứa ma tuý Heroin. Bị cáo Trần Thanh T lấy 01 (một) gói ma tuý Heroin ra sẻ một phần vào túi nilon cất vào trong túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người rồi cầm 03 gói giấy chứa ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe môtô quay lại gặp và đưa cho bị cáo Phương Văn T3 01 (một) gói ma tuý Heroin, bị cáo Phương Văn T3 cất giấu vào trong túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người. Khi bị cáo Trần Thanh T chở M1, H và bị cáo Phương Văn T3 đang đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị bắt giữ như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 630/KL-KTHS ngày 03-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định: Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Trần Thanh T đã giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,734 gam; Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Phương Văn T3 đã giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,146 gam.

Kết luận giám định số 664/KL-KTHS ngày 08-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định toàn bộ số tiền Việt Nam thu giữ của bị cáo Trần Thanh T là tiền thật.

Kết luận giám định số 824/KL-KTHS ngày 08-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định không khôi phục được dữ liệu trong điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh đã thu giữ của bị cáo Trần Thanh T.

Tại Bản cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 11-11-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Trần Thanh T và Phương Văn T3 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Phương Văn T3 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Phương Văn T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 18 tháng đến 21 tháng tù; xử phạt bị cáo Phương Văn T3 từ 13 tháng đến 15 tháng tù; không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với các bị cáo; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 phong bì đựng chất ma túy là mẫu vật sau giám định, 01 biển kiểm soát 12P1-9901; tịch thu hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI1 867366042308236, IMEI 2 867366042308228 lắp kèm 02 sim số 0862.229.159 và 0337.763.063, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 867143060063294, IMEI2:867143060063286 lắp kèm sim số 0349.582.846; trả lại bị cáo Trần Thanh T số tiền 620.000 đồng; trả lại anh Trần Mạnh T4 01 xe môtô HONDA WAVE, màu xanh, biển kiểm soát 12D1-249.57, số máy JA39E-1535502, số khung RLHJA391XLY197649; trả lại chị Nguyễn Thị Ì 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12P1-187.99; căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Thanh T phải chịu án phí theo quy định và miễn án phí cho bị cáo Phương Văn T3.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày, các bị cáo biết hành vi các bị cáo đã thực hiện là sai, mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

• Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng; giải thích, hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.

• Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Mạnh T4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông Trần Văn T1, ông Trần Văn T1 có mặt tại phiên tòa. Anh Vi Văn T5 và Hoàng Văn B là người làm chứng, ông Triệu Văn D là người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo quy định tại khoản 1 Điều 292, các Điều 293, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

• Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thanh T, Phương Văn T3 đều khai nhận bản thân các bị cáo sử dụng ma túy Heroin từ nhiều năm trước. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 01-6-2024, bị cáo Trần Thanh T đang trên đường đi tìm mua ma túy Heroin để sử dụng thì nhận được điện thoại của bị cáo Phương Văn T3 nhờ mua hộ ma túy Heroin. Bị cáo Trần Thanh T nhận lời, đã đi mua được ma túy Heroin và đưa cho bị cáo Phương Văn T3, khi cả hai đang đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị bắt giữ. Khối lượng ma túy bị cáo Trần Thanh T tàng trữ là 0,734 gam ma túy Heroin; bị cáo Phương Văn T3 tàng trữ là 0,146 gam ma túy Heroin. Do đó, có đủ cơ sở xác định các bị cáo Trần Thanh T và Phương Văn T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

• Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy còn là hành vi vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, tự hủy hoại sức khỏe của bản thân và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

• Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

• Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thanh T có ông nội là Trần Viết R được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, do đó, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

• Về nhân thân: Bị cáo Trần Thanh T đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; các bị cáo đều là những đối tượng nghiện ma túy. Do đó, đánh giá các bị cáo đều có nhân thân xấu.

• Xét về vai trò đồng phạm, đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính giản đơn, bị cáo Trần Thanh T là người khởi xướng việc mua ma túy về sử dụng, còn bị cáo Phương Văn T3 là đồng phạm, góp tiền nhờ bị cáo Trần Thanh T mua ma túy để sử dụng. Xác định hai bị cáo có vai trò ngang nhau.

• Từ những nhận định trên, thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

• Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị, bị cáo Phương Văn T3 thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

• Đối với các đối tượng M1 và H là người được Trần Thanh T rủ đi cùng sử dụng ma túy và người đàn ông lái xe ôm đi mua hộ ma túy cho Trần Thanh T, Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục cơ làm rõ, xử lý đối với những người này.

• Mẫu vật đã giám định đựng trong 02 (hai) phong bì đã niêm phong là chất ma túy, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, 01 biển kiểm soát 12P1-9901 là biển số xe mô tô của bà Tô Thị T2, hiện xe đã bị bán sắt vụn, tại phiên tòa bà Tô Thị T2 không đề nghị lấy lại biển số xe nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI1 867366042308236, IMEI 2 867366042308228 lắp kèm 02 sim số 0862.229.159 và 0337.763.063, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 867143060063294, IMEI2:867143060063286 lắp kèm sim số 0349.582.846 là phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với các xe môtô HONDA WAVE, màu xanh, số máy JA39E-1535502, số khung RLHJA391XLY197649 và 01 biển kiểm soát 12D1-294.57 của anh Trần Mạnh T4; 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12P1-187.99 của chị chị Nguyễn Thị Ì, các bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy sử dụng, anh Trần Mạnh T4 và chị Nguyễn Thị Ì không biết nên cần trả lại xe cho những người này. Đối với số tiền 620.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thanh T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

• Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Phương Văn T3 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bị cáo Phương Văn T3 thuộc hộ nghèo, có xin miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

• Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

• Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thanh T;

Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phương Văn T3;

Khoản 1 Điều 292, Điều 293, Điều 296, khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Phương Văn T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-6-2024.

Xử phạt bị cáo Phương Văn T3 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-6-2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 (hai) phong bì niêm phong; 01 biển kiểm soát 12P1-9901.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, số IMEI1 867366042308236, IMEI 2 867366042308228 lắp kèm 02 sim số 0862.229.159 và 0337.763.063; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI 867143060063294, IMEI2:867143060063286 lắp kèm sim số 0349.582.846.

Trả lại anh Trần Mạnh T4 01 xe môtô HONDA WAVE, màu xanh, biển kiểm soát 12P1-9901, đã qua sử dụng, số máy JA39E-1535502, số khung RLHJA391XLY197649; 01 biển kiểm soát 12D1-294.57.

Trả lại chị Nguyễn Thị Ì 01 xe mô tô Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 12P1-187.99, đã qua sử dụng, số maysAE-0090798, số khung RLHJA 3909HY090753.

Trả lại bị cáo Trần Thanh T số tiền 620.000 (sáu trăm hai mươi nghìn) đồng.

(Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15-11-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và Ủy nhiệm chi số 91 ngày 18-11-2024).

4. Án phí

Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Phương Văn T3 được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CATP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; người có QL,NVLQ đến vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger