|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 161/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Ngà.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Nhà văn hóa thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 147/2024/TLST - HS ngày 29/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST - HS ngày 14/11/2024 đối với các bị cáo:
-
Hà Ngọc T, sinh năm 1983.
Nơi sinh, cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Ngọc T1 và bà Đặng Thị L (đã chết); vợ: Trương Thị Thùy D (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm: 2015; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo T bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024, tạm giam ngày 10/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Trần Đức T2, sinh năm 1987.
Nơi sinh, cư trú: Số C khu A, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị T3; vợ: Nguyễn Thị Q; con: Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024, tạm giam ngày 10/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Đức T4, sinh năm 1976, vắng mặt.
Địa chỉ: Số nhà I N, thị trấn T, huyện G, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức T2 và Hà Ngọc T (hiện ở trọ tại phòng 312, CT21A, Khu Đô thị V, phường G, quận L, thành phố Hà Nội) đều là người nghiện các chất ma tuý và có mối quan hệ là bạn bè quen biết với nhau. Để có tiền tiêu sài và mua ma túy sử dụng, T đã nảy sinh ý định đi mua ma túy về giao cho T2 bán nhằm thu lợi bất chính.
T khai: Khoảng đầu tháng 5/2024, T đi đến khu vực gần siêu thị B thuộc quận L, thành phố Hà Nội gặp một người nữ giới (không rõ họ, tên, địa chỉ) mua 2.000.000 đồng tiền ma túy tổng hợp, thường gọi là “Đá” và 2.000.000 đồng tiền ma túy tổng hợp thường gọi là “Ngựa” thì người phụ nữ này bán cho T 02 túi nilon, mỗi túi đựng 20 viên ma túy (Ngựa); 07 túi nilon đựng ma túy (Đá). Sau đó, T cất toàn bộ số ma túy mua được vào 01 hộp kim loại màu đen rồi cho vào túi quần phía trước, bên trái T đang mặc mang về cất giấu tại phòng 312, CT21A, Khu Đô thị V, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.
Khoảng 1 - 2 ngày sau, T2 và T gặp nhau tại quán cà phê ở khu vực thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, T nói với T2 là T có bán ma túy tổng hợp, thường gọi là “Đá”, nếu có khách mua ma túy thì T2 đến lấy ma tuý của T5 mang đi bán cho khách, T sẽ trả công cho T2 bằng tiền hoặc ma túy để sử dụng thì T2 đồng ý.
Sau khi cất giấu số ma tuý trên ở phòng trọ thì đến sáng ngày 04/6/2024, T đã sử dụng hết 24 viên ma túy tổng hợp (Ngựa) và một phần túi ma túy tổng hợp (Đá). Đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, T lấy 01 túi nilon màu trắng, đựng ma túy tổng hợp (Đá) cho vào trong 01 túi đựng tài liệu (loại túi C) mang theo người rồi đi ra khỏi phòng trọ với mục đích để đem bán. Khoảng 11 giờ 00 ngày 04/6/2024, T2 sử dụng tài khoản Zalo “Tdzthậtđấy” đăng ký bằng số điện thoại 0368.903.xxx liên hệ với tài khoản Zalo “Tdz” đăng ký bằng số điện thoại 0946.701.xxx của T hỏi mua của T 400.000 đồng tiền ma túy tổng hợp và bảo T chuyển về cửa hàng K1 ở số nhà I N, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội cho T2 thì T đồng ý. Sau đó, T2 sử dụng tài khoản số 0338645705 của ngân hàng M1 chuyển 400.000 đồng tiền mua ma tuý vào tài khoản V1 số 0301000395682 của T. Sau khi nhận được tiền, T thuê một người nam giới (không rõ họ, tên và địa chỉ) là lái xe ôm chuyển 01 túi, loại túi Clear bên trong chứa túi ma túy tổng hợp nêu trên giao đến cho T2 ở địa chỉ số I N, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Sau đó, T2 mang số ma tuý này về phòng ngủ tầng 2 nhà T2 tại số nhà C, Khu A, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên sử dụng hết.
Khoảng 10 giờ 30 ngày 06/6/2024, T tiếp tục lấy 01 túi ma túy tổng hợp (Đá) cho vào trong 01 túi đựng tài liệu (loại túi Clear) mang theo người đi ra khỏi phòng trọ để đi bán. Đến khoảng 10 giờ 45 ngày 06/6/2024, khi T2 ở cửa hàng K1 thì có người tên V, sinh năm 1980 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên sử dụng số điện thoại 0927.390.xxx gọi cho T2 để hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy tổng hợp, T2 đồng ý. Sau đó, V xin số tài khoản ngân hàng của T2 rồi chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số 0983245280 của ngân hàng M2 đến tài khoản ngân hàng của T2. Sau khi nhận được tiền của V, T2 gọi Z cho T và nói là có khách mua 500.000 đồng tiền ma túy tổng hợp, T đồng ý và bảo Trung chuyển cho T số tiền 450.000 đồng và giữ lại số tiền 50.000 đồng là tiền công mà T trả cho T2. Sau đó, T gọi xe ôm công nghệ thì anh Nguyễn Đình V, sinh năm 1993 ở số C tổ B Đ, phường M, quận H, thành phố Hà Nội (là lái xe ôm công nghệ G), điều khiển xe
mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu vàng, biển số 28D1-098.54 đến thì T nhờ một người nam giới (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đi bộ gần đó đưa hộ gói ma túy cho anh V. Sau đó, anh V điều khiển xe mang giao cho T2, T2 nhận hàng và trả anh V phí vận chuyển là 110.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 29H7 – 0699 mang số ma túy trên đi đến khu vực xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên để bán cho người tên V nêu trên. Khi T2 đi đến khu vực trước cửa số nhà F, trục đường ĐH18, phố D, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì bị Tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, phát hiện, thu giữ, gồm:
- Thu tại giỏ để hàng phía trước của chiếc xe mô tô trên: 03 miếng gỗ, màu nâu được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, trong đó 01 miếng gỗ có kích thước (11x10)cm, 02 miếng gỗ đều có kích thước (9,5x9,5)cm, một mặt có hình hoa văn, bên trong có 01 túi nilon, màu trắng, kích thước (2,5x2,5)cm, có viền mép bấm màu xanh, bên trong đựng chất dạng tinh thể màu trắng. Túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “M”.
- T8 tại túi quần phía trước bên phải chiếc quần vải, màu xanh của T2 đang mặc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số Serial 1: 353112113596841, số Serial 2: 353112118596846, lắp sim điện thoại có số thuê bao 0368.903.881 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold, số IMEI: 357274094057163, lắp sim điện thoại có số thuê bao 0367.211.543. 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 29H7-0699.
Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đức T2 tại số nhà C, Khu A, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Căn cứ lời khai của T2, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Ngọc T, phát hiện và thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:
Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái chiếc quần soóc, màu đen của Hà Ngọc T đang mặc các đồ vật, tài liệu gồm:
- 01 hộp kim loại màu đen kích thước (8x5x1,5)cm bên trong đựng: 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu đỏ, kích thước (6,5x4)cm một mặt có dán băng dính màu vàng bên trong túi đựng 11 viên nén màu hồng và nhiều mảnh nhỏ màu hồng dạng cục;
- 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu đỏ, kích thước (6,5x4)cm bên trong có 04 viên nén màu hồng và có bám dính chất tinh thể màu hồng dạng bột;
- 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu đỏ, kích thước (6,5x4)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng và màu hồng;
- 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu xanh, kích thước (3x3)cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng;
- 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu xanh, kích thước (2,5x2,5)cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng;
- 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu xanh, kích thước (2,5x2,5)cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng một mặt có dán băng dính màu vàng;
- 01 túi nilon màu trắng một đầu có viền mép bấm màu xanh, kích thước (2,5x2,5)cm bên trong đựng chất tinh thể màu trắng một mặt có dán băng dính màu vàng
- 01 ống nhựa màu trắng dài 7,5cm, một đầu vát chéo, bên trong có bám dính chất màu hồng.
Toàn bộ được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “Tuân 1”.
Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải chiếc quần soóc, màu đen của Hà Ngọc T đang mặc các đồ vật, tài liệu gồm:
- 01 chiếc cân điện tử có vỏ ốp màu đen, trắng, được niêm phong trong phong bì thư dán kín, ký hiệu “Tuân 2”
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, số IMEI 1: 355123110850493; số IMEI 2: 355123110850501, lắp sim số điện thoại 0349.986.xxx.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen, số IMEI: 35481114404844, lắp sim số điện thoại 0946.701.xxx.
Cùng ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Ngọc T, tại phòng 312, CT21A, Khu đô thị V, phường G, quận L, Thành phố Hà Nội, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì thêm.
Tại bản kết luận giám định số 423/KL – KTHS(MT) của Phòng K2 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu “M”, có khối lượng 0,602g là ma túy, loại Ketamine và Methamphetamine. Mẫu vật hoàn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong ghi số 423/KL-KTHS(MT) của Phòng K2 Công an tỉnh H.
Tại bản kết luận giám định số 4352/KL-KTHS của V2 Bộ C1, kết luận: Hàm lượng chất ma tuý Ketamine và M có trong mẫu dạng tinh thể màu trắng gửi giám định lần lượt là 38% và 38,1%; Khối lượng chất ma tuý Ketamine và Methamphetamine có trọng lượng 0,573gam mẫu dạng tinh thể màu trắng gửi giám định lần lượt là 0,217gam và 0,218gam. Mẫu vật hoàn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong số 4352/KL-KTHS của V2 Bộ C1.
Tại Thông báo kết luận giám định sơ bộ và Kết luận giám định đều số 434/KL-KTHS(MT), ngày 08/6/2024 và ngày 11/6/2024của Phòng K2 Công an tỉnh H, kết luận:
- Mẫu chất dạng viên nén màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng, được ký hiệu là "Tuân 1"-1, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có tổng khối lượng là: 1,259g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng viên nén màu hồng, được ký hiệu là "Tuân 1"-2-1, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có tổng khối lượng là: 0,425g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng-hồng, được ký hiệu là "Tuân 1"-2-2, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có khối lượng là: 0,025g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng-hồng, được ký hiệu là "Tuân 1"-3, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có khối lượng là: 1,978g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, được ký hiệu là "Tuân 1"-4, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có khối lượng là: 0,150g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, được ký hiệu là "Tuân 1"-5, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có khối lượng là: 0,040g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, được ký hiệu là "Tuân 1"-6, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân l", có khối lượng là: 0,129g là ma tuý, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, được ký hiệu là "Tuân 1"-7, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", có khối lượng là: 0,054g, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng-hồng, được ký hiệu là "Tuân 1"-8, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 1", không xác định được khối lượng, là ma túy, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, trong niêm phong ghi ký hiệu "Tuân 2", không xác định được khối lượng, là ma túy, loại: Methamphetamine.
Mẫu vật hoàn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong ghi số 434/KL-KTHS(MT) của Phòng K2 Công an tỉnh H.
Cơ quan điều tra Công an huyện V đã nhập kho vật chứng để chở xử lý theo quy định những vật chứng sau:
Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong số 4352/KL-KTHS của V2 Bộ C1 và 01 phong bì niêm phong số 434/KL-KTHS(MT) của phòng K2 Công an tỉnh H.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold, số IMEI: 357274094057163, lắp sim số điện thoại 0367.211.xxx của T2 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen, số IMEI: 35481114404844, lắp sim số điện thoại 0946.701.xxx của T, là điện thoại T2 và T sử dụng vào việc phạm tội.
Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số Serial 1: 353112113596841, số Serial 2: 353112118596846, lắp sim số điện thoại 0368.903.xxx của T2 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, số IMEI 1: 355123110850493; số IMEI 2: 355123110850501, lắp sim số điện thoại 0349.986.xxx của T, xác định T2 và T không sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với 03 miếng gỗ, màu nâu được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, trong đó 01 miếng gỗ có kích thước (11x10)cm, 02 miếng gỗ đều có kích thước (9,5x9,5)cm, một mặt có hình hoa văn, T sử dụng để chứa ma tuý bên trong.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, đã qua sử dụng, biển số 29H7-0699 thu giữ của T2, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Ngô Đức T4, sinh năm 1976, ở số nhà I N, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội, ông T4 không biết việc T2 mượn xe để đi mua bán ma tuý. Ngày 09/7/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả chiếc xe mô tô trên cho ông T4. Ông T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với người T khai bán ma túy cho T tại khu vực quận L, thành phố Hà Nội, ngày 27/6/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên đã có Công văn số 556A trao đổi đến Cơ quan CSĐT - Công an quận L, Hà Nội để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với người mua ma tuý T2 khai có tên là V, sinh năm 1980, ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, sử dụng số điện thoại 0927.390.xxx liên lạc để mua ma tuý. Cơ quan điều tra Công an huyện V đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn N xác đinh: tại khu vực thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên không có người nào có tên là V, sinh năm 1980, có thông tin đặc điểm nhận dạng giống với lời khai Trần Đức T2 đã trình bày. Còn số điện thoại 0927.390.xxx mang tên Phạm Khánh H, sinh ngày 09/4/2007, CCCD số: 0373070006418. Quá trình điều tra xác định, Phạm Khánh H, sinh ngày 09/4/2007 ở thôn H, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình, không sử dụng số điện thoại 0927.390.xxx, không biết ai là người đang sử dụng số điện thoại đó và H cũng không quen biết ai có tên là Trần Đức T2. Đối với tài khoản ngân hàng M1 số 0983245280 là tài khoản T2 khai của V sử dụng chuyển tiền mua ma tuý cho T2. Quá trình xác minh xác định mang tên Trần N, sinh năm 1987, ở thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Anh Nguyên K: Khoảng 10 giờ 30 ngày 06/6/2024, khi anh N đứng bán hàng ở tư Dốc Vật giá, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì có một người đàn ông đến nhờ anh N chuyển khoản ngân hàng giúp số tiền 500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M2 số 0338645705 mang tên Tran Duc T6. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ người mua ma tuý của T6 sẽ giải quyết sau.
Đối với anh Nguyễn Đình V là lái xe ôm công nghệ G giao túi ma tuý cho T6 nhưng do túi ma tuý được bọc kín trong các miếng gỗ nên anh V không biết bên trong là ma tuý nên không xem xét xử lý đối với anh V.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T6, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Quá trình điều tra, Hà Ngọc T và Trần Đức T2 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. T và T2 đều khai số ma tuý mà cơ quan điều tra đã thu giữ mục đích để bán cho các con nghiện.
Tại bản cáo trạng số: 152/CT-VKS-VL ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Hà Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Trần Đức T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Ngọc T và Trần Đức T2 đều phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Hà Ngọc T.
Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc T từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Trần Đức T2.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 4352/KL-KTHS của V2 Bộ C1; 02 phong bì niêm phong số 434/KL-KTHS(MT) và 423/KL-KTHS(MT) của phòng K2 Công an tỉnh H; 03 miếng gỗ, màu nâu được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, trong đó 01 miếng gỗ có kích thước (11x10)cm, 02 miếng gỗ đều có kích thước (9,5x9,5)cm, một mặt có hình hoa văn; 01 sim điện thoại số 0367.211.xxx lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold và 01 sim điện thoại số 0946.701.xxx lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold, số IMEI: 357274094057163, lắp sim số điện thoại 0367.211.xxx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen, số IMEI: 35481114404844, lắp sim số điện thoại 0946.701.xxx.
- Trả lại Trần Đức T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số Serial 1: 353112113596841, số Serial 2: 353112118596846, lắp sim số điện thoại 0368.903.xxx.
- Trả lại Hà Ngọc T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, số IMEI 1: 355123110850493; số IMEI 2: 355123110850501, lắp sim số điện thoại 0349.986.xxx.
- Truy thu của bị cáo Hà Ngọc T số tiền 850.000 đồng (T7 trăm năm mươi nghìn đồng) và của bị cáo Trần Đức T2 số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâmvà Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định:
Với mục đích kiếm lời nên trong các ngày 04/6/2024, tại thị trấn T, huyện G, Thành phố Hà Nội, Hà Ngọc T đã bán trái phép 01 gói ma tuý (đá) cho Trần Đức T2 để T2 sử dụng. Đến sáng ngày 06/6/2024, T tiếp tục bán trái phép cho T2 01 gói ma tuý có khối lượng 0,602 gam ma túy loại Ketamine và Methamphetamine, sau đó T2 cất giấu số ma tuý trên trong người mục đích để đi bán trái phép. Khi đi đến trục trục đường ĐH18, phố D, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì bị Công an huyện V bắt quả tang. Ngoài ra T còn có hành vi tàng trữ 4,060g ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép kiếm lời.
Hành vi của Hà Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Trần Đức T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã mua bán trái phép chất ma túy. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, một số tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng có nguồn gốc phát sinh từ tệ nạn ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.
Trong vụ án, có đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm, nhưng tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò các bị cáo trong vụ án như sau: Bị cáo T giữ vai trò đầu vụ, bị cáo là người đi mua ma túy để bán lại cho T2 kiếm lời, T còn nhờ T2 bán ma túy giúp T và trả công cho T2 bằng tiền. T2 giữ vai trò đồng phạm tích cực, T2 mua ma túy của T để sử dụng, khi V hỏi mua ma túy, Trung liên hệ với T chuyển ma túy về cho T2 để T2 bán cho V hưởng tiền công.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xét đến quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; các bị cáo xuất trình tài liệu chứng minh bố các bị cáo được tặng thưởng H1 huy chương, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với anh Nguyễn Đình V là lái xe ôm công nghệ G giao túi ma tuý cho T2 nhưng do túi ma tuý được bọc kín trong các miếng gỗ nên anh V không biết bên trong là ma tuý nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với anh V.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 phong bì niêm phong số 4352/KL-KTHS của V2 Bộ C1; 02 phong bì niêm phong số 434/KL-KTHS(MT) và 423/KL-KTHS(MT) của phòng K2 Công an tỉnh H là vật chứng của vụ án, Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold, số IMEI: 357274094057163, lắp sim số điện thoại 0367.211.xxx thu giữ của T2 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen, số IMEI: 35481114404844, lắp sim số điện thoại 0946.701.xxx thu giữ của T, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại nêu trên, đối với 02 sim lắp trong 02 chiếc điện thoại này sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số Serial 1: 353112113596841, số Serial 2: 353112118596846, lắp sim số điện thoại 0368.903.xxx thu giữ của T2 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, số IMEI 1: 355123110850493; số IMEI 2: 355123110850501, lắp sim số điện thoại 0349.986.xxx thu giữ của T, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ trả lại cho các bị cáo.
Đối với 03 miếng gỗ, màu nâu được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, trong đó 01 miếng gỗ có kích thước (11x10)cm, 02 miếng gỗ đều có kích thước (9,5x9,5)cm, một mặt có hình hoa văn, T sử dụng để chứa ma tuý bên trong nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với số tiền 850.000 đồng (T7 trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo Hà Ngọc T thu lời bất chính do hai lần bán ma túy cho T2 và số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) bị cáo Trần Đức Trung T8 lời bất chính do bán ma túy cho V nên sẽ truy thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, đã qua sử dụng, biển số 29H7-0699 thu giữ của T2, là tài sản của ông Ngô Đức T4, sinh năm 1976, ở số nhà I N, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội, ông T4 không biết việc T2 mượn xe để đi mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả chiếc xe mô tô trên cho ông T4. Ông T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Hà Ngọc T, Trần Đức T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Hà Ngọc T và Trần Đức T2 phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Hà Ngọc T.
- Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc T 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Trần Đức T2.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T2 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
-
Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 4352/KL-KTHS của V2 Bộ C1; 02 phong bì niêm phong số 434/KL-KTHS(MT) và 423/KL-KTHS(MT) của phòng K2 Công an tỉnh H; 03 miếng gỗ, màu nâu được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, trong đó 01 miếng gỗ có kích thước (11x10)cm, 02 miếng gỗ đều có kích thước (9,5x9,5)cm, một mặt có hình hoa văn; 01 sim điện thoại số 0367.211.xxx lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold và 01 sim điện thoại số 0946.701.xxx lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu Gold, số IMEI: 357274094057163, lắp sim số điện thoại 0367.211.xxx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG, màu đen, số IMEI: 35481114404844, lắp sim số điện thoại 0946.701.xxx.
- Trả lại Trần Đức T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số Serial 1: 353112113596841, số Serial 2: 353112118596846, lắp sim số điện thoại 0368.903.xxx.
- Trả lại Hà Ngọc T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, số IMEI 1: 355123110850493; số IMEI 2: 355123110850501, lắp sim số điện thoại 0349.986.xxx.
(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 152/QĐ-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên).
Truy thu của bị cáo Hà Ngọc T số tiền 850.000 đồng (T7 trăm năm mươi nghìn đồng) và của bị cáo Trần Đức T2 số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Các bị cáo Hà Ngọc T, Trần Đức T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Mười |
Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 161/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy Tuân Trung
