Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân

Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

Bà Lê Thị Xuân Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như- là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:167/2024/TLST-HS ngày tháng 28 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đình V sinh ngày 19/8/2000 tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 (chết) và bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1976; Bị cáo không có vợ con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo Nguyễn Đình V đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, đến nay bị cáo có mặt.

  1. Trần Phương N, sinh ngày 11/10/2002, tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm 1973 và bà Lê Ngọc S, sinh năm 1976; Bị cáo không có vợ con ; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Trần Phương N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, đến nay bị cáo có mặt.

  1. Huỳnh Ngọc T1, sinh ngày 08/01/1987 tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: Số C tổ E, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1955 và bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ tên Phan Thị Lệ H1, sinh năm 1987 và 01 người con sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo Huỳnh Ngọc T1 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, đến nay bị cáo có mặt.

Bị hại:

Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 2004, (có mặt).

Địa chỉ: ấp D, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Võ Văn Thanh G, sinh năm 1998, (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp E, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.

  1. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999, (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An.

  1. Thạch Thị Mỹ C, sinh năm 1999, (có mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  1. Võ Thị Huỳnh L, sinh năm 1976, (có mặt).

Địa chỉ: Khóm E, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

  1. Phan Thị Lệ H1, sinh năm 1997,(có mặt).

Địa chỉ: Khóm T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Nguyễn Thị Minh P1, sinh năm 1997 (vắng mặt) và Huỳnh Văn T3, sinh năm 1997 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2023, Nguyễn Minh P quen biết và sống chung như vợ chồng với Thạch Thị Mỹ C, sinh năm 1999, nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh tại phòng trọ B54 nhà trọ B thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Đến khoảng tháng 8 năm 2023, P phát hiện C nhắn tin với Nguyễn Đình V, nên P gọi điện thoại và nhắn tin với V dẫn đến mâu thuẫn nhau, P rủ V đánh nhau. Ngày 09/09/2023, V đến quán cà phê không biển hiệu, địa chỉ ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An uống cà phê với Trần Phương N, V rủ N đi lên huyện Đ, tỉnh Long An để hỗ trợ V đánh nhau với P, thì N đồng ý. Sau đó, V đến nhà Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999, nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An để mượn Tánh 02 con dao tự chế (màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50 cm). V nói với T2 là mượn 02 con dao làm công chuyện, T2 đồng ý. Lúc này, V điện thoại cho N nói là mượn được 02 con dao tự chế màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50cm và rũ N đi lên huyện Đ, tỉnh Long An đánh nhau với P thì N đồng ý.

Đến ngày 10/9/2023 V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ biển số 62D1-192.56 chở N từ ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An mang theo 02 con dao tự chế (màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50 cm) lên huyện Đ, tỉnh Long An trên đường đi V gọi điện thoại cho Huỳnh Ngọc T1 rủ T1 hỗ trợ V đánh P thì T1 đồng ý. V kêu T1 đến phòng trọ của Q (bạn V) tại ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An uống bia. Lúc này, V tiếp tục gọi điện thoại Võ Văn Thanh G, sinh năm 1998, nơi cư trú: tổ A, ấp E, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang cùng đến nhà trọ của Q để uống bia. Khi đến nhà trọ của Q, V ngồi uống bia cùng với Q, G, T1, N. V nhận được điện thoại của Thạch Thị Mỹ C kêu V chở đi ăn nên Văn điều khiển xe đến chở C đi ăn sau khi đi ăn xong V chở C về phòng trọ của C. Khi chở C về xong, V điện thoại cho G kêu G đi theo hỗ trợ V đánh P, G đồng ý. V điện thoại cho N kêu T1 chở ra đường số I Khu công nghiệp T để gặp nhau. Triển điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Sirius, màu đen, biển số 83E1-184.61 chở N cầm theo 02 con dao tự chế, còn G đi một mình ra đến đường số I Khu công nghiệp T để gặp V. Tại đây V nói với N, T1 và G là P điện thoại hẹn gặp tại nhà trọ Ngọc T4 kêu tất cả cùng đi. V, N, T1 và G cùng nhau đi đến nhà trọ B thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Khoảng 15 giờ ngày 10/9/2023 khi V, N, T1 và G đi đến đầu hẻm vào nhà trọ Ngọc T4 thì Giàu có nói với V là đừng có đi đánh nhau, rồi G ngồi ở ngoài không tiếp tục đi cùng V nữa. N lấy 02 con dao tự chế (màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50 cm) đưa cho V cầm 01 con dao, N cầm 01 con dao đi vào bên trong nhà trọ Ngọc T4 khoảng 100m thì thấy P điều khiển xe chạy ngược ra. Khi P chạy xe vừa đến chỗ V đang đứng thì V cầm dao tự chế màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50cm bằng tay phải chém từ trên xuống trúng vào tay phải của P 01 cái gây thương tích. P bỏ xe lại chạy bộ ra hướng lộ nhựa được một đoạn thì té ngã xuống đường, lúc này V, N, chạy đến chỗ P té ngã N dùng dao tự chế dài khoảng 50cm chém 01 cái trúng vào tay trái của P gây thương tích, P tiếp tục bỏ chạy đoạn cách nhà trọ biển hiệu Ngọc T4 khoảng 50m thì tiếp tục bị té ngã thì N, V, T1 đuổi kịp. V, N dùng dao tự chế chém 02- 03 cái vào chân và lưng P gây thương tích. P đứng dậy bỏ chạy V cùng N, T1 rượt đuổi theo để đánh P nhưng không kịp nên bỏ đi. V đưa dao tự chế cho N cầm và chở N về lại nhà ở ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Trên đường đi đến cầu Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì V, N ném 02 con dao tự chế xuống sông C. T1 điều khiển xe đi về nhà trọ ở Thành phố T, tỉnh Bình Dương. P được người dân xung quanh đưa đến phòng khám Đ để điều trị.

Ngày 24/09/2023, P đến Cơ quan Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tố cáo sự việc và yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật hình sự.

Vật chứng tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh số IMEI: 865815050600639, số IMEI 2: 865815050600621, số tiền 15.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 02/KLTTCT-TTPY ngày 03/01/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh L kết Luận:

“Lưng có sẹo vết thương có kích thước lớn có tỷ lệ 03% (Ba phần trăm). Tay trái có sẹo vết thương có kích thước trung bình tỷ lệ 02% (Hai phần trăm). Tay phải vết thương trùng sẹo phẩu thuật có kích thước lớn tỷ lệ 03% (Ba phần trăm). Gãy mỏm khuỷu phải tỷ lệ 07% (Bảy phần trăm).

Quyết định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Minh P là 15%".

Tại bản Cáo trạng số 166/CT- VKSĐH ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này).

Trước Tòa, các bị cáo hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của VKSND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Minh P trình bày: Vào ngày 10 tháng 9 năm 2023 anh bị nhóm các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 gây thương tích với tỷ lệ là 15%.

Tại Đơn yêu cầu bồi thường, anh yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 liên đới bồi thường cho anh các khoản gồm:

  • Tiền viện phí 40.000.000 đồng;
  • Tiền xe đi bệnh viện và đi tái khám tại bệnh viện 06 lần x 1.200.000 đồng = 7.200.000 đồng.
  • Tiền thay băng rửa vết thương 5.000.000 đồng,
  • Tiền mổ lấy Inox ra là 30.000.000 đồng,
  • Tổn thất về tinh thần cho anh số tiền 50 tháng x 2.340.000 đồng/ tháng = 117.000.000 đồng.
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị là 200.000 đồng/ngày x 07 ngày = 1.400.000 đồng.
  • Tiền ăn uống, bồi dưỡng cho anh trong thời gian nằm tại bệnh viện là 03 ngày, mỗi ngày chi phí là 300.000 đồng/ngày = 900.000 đồng.
  • Tiền thu nhập thực tế bị mất của anh là 200.000 đồng/ngày x 365 ngày = 73.000.000 đồng

Tổng cộng số tiền anh yêu cầu là: 274.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, anh xác định chỉ yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 liên đới bồi thường thiệt hại cho anh tổng số tiền là 62.400.000 đồng. Ngoài ra anh không yêu cầu gì thêm khác và yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Phương N.

Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo gây ra, đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này):

  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134), điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình V từ 03 năm đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134), điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Phương N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134), điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh số IMEI: 865815050600639, số IMEI 2: 865815050600621, đây là tang vật của vụ án, đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

Đối với sim số 0347713996, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe ô tô biển số 83E1-18461, do chị Phan Thị Lệ H1 đứng tên giấy đăng ký xe mô tô, đưa cho bị cáo T1 sử dụng làm phương tiện đi lại, hiện nay xe mô tô này chị H1 đã bán cho người khác sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu hồi, nên không đề cập giải quyết.

Đối với xe ô tô biển số 62D1 -192.56, do bị cáo V đứng tên giấy đăng ký xe mô tô, bị cáo sử dụng vào việc đánh nhau với P, hiện nay xe mô tô này bị cáo đã bán cho người thanh niên không rõ họ tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu hồi, nên không đề cập giải quyết.

Đối với điện thoại di động bị cáo N dùng để liên lạc với bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội, N đã bán điện thoại di động này cho người không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu giữ được nên không đề cập giải quyết.

Đối với điện thoại di động bị cáo T1 dùng để liên lạc với bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội, T1 đã bán điện thoại di động này cho người không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu giữ được nên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật Dân sự: tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Minh P yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 liên đới bồi thường thiệt hại cho anh tổng số tiền là 62.400.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Riêng bị cáo N được khấu trừ vào số tiền 15.000.000 đồng đã bồi thường trước.

Đối với Võ Văn Thanh G được Nguyễn Đình V rủ đi hỗ trợ đánh gây thương tích cho Nguyễn Minh P thì G đồng ý, nhưng khi đến đầu đường vào nhà trọ Ngọc Tú G tự ý chấm dứt hành vi phạm tội và có can ngăn kêu Văn đừng đi đánh nhau. Giàu không nhìn thấy và cũng không tham gia cùng với V, N và T1 gây thương tích cho P nên hành vi của G không đồng phạm với V, N và T1 về tội “Cố ý gây thương tích”.

Đối với Nguyễn Văn T2 cho Văn mượn 02 con dao tự chế (màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50 cm). Tuy nhiên, T2 không biết Văn mượn 02 con dao tự chế để đi chém gây thương tích cho P nên hành vi Tánh không cấu thành tội phạm có liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc Triển K nhận: Khoảng 15 giờ, ngày 10 tháng 9 năm 2023, tại nhà trọ B thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, xuất phát từ mâu thuẫn trong chuyện tình cảm giữa Nguyễn Minh P và Nguyễn Đình V với Thạch Thị Mỹ C nên Nguyễn Đình V có hành vi dùng 01 con dao tự chế, màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50 cm chém 01 cái trúng vào tay phải của P gây thương tích cho P, P chạy bộ ra hướng lộ nhựa được một đoạn thì té ngã xuống đường lúc này V, N, chạy đến chỗ P té ngã N dùng dao tự chế dài khoảng 50cm chém 01 cái trúng vào tay trái của P gây thương tích, P tiếp tục bỏ chạy đoạn cách nhà trọ biển hiệu Ngọc T4 khoảng 50m thì tiếp tục bị té ngã thì N, V, T1 đuổi kịp. V, N dùng dao tự chế chém 02 đến 03 cái vào chân và lưng P gây thương tích cho P với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 15%.

Lời khai nhận của các bị cáo trước Tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 02/KLTTCT- TTPY ngày 03/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường và biên bản xác định vật chứng tương tự đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên tòa, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận, các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi của các bị cáo là sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó là sẽ gây thương tích cho bị hại nhưng các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

[4]. Trong vụ án này, Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 thực hiện hành vi phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ với nhau nhưng cũng cần phân tích vai trò của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt cho tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra. Đối với bị cáo Nguyễn Đình V là người thực hiện tội phạm với vai trò, chủ mưu, rủ rê, cầm đầu và cùng bị cáo N, T1 gây thương tích cho bị hại Nguyễn Minh P 15%.

[5]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5.1]. Đối với bị cáo Nguyễn Đình V: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo V không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Do vậy, xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5.2]. Đối với bị cáo Trần Phương N: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo vận động gia đình bồi thường cho bị hại một phần. Ngoài ra bị hại P xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Do vậy, xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5.3]. Đối với bị cáo Huỳnh Ngọc T1: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Do vậy, xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh số IMEI: 865815050600639, số IMEI 2: 865815050600621, đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

Đối với sim số 0347713996, đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe ô tô biển số 83E1-18461, do chị Phan Thị Lệ H1 đứng tên giấy đăng ký xe mô tô, đưa cho bị cáo T1 sử dụng làm phương tiện đi lại, hiện nay xe mô tô này chị H1 đã bán cho người khác sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu hồi, nên không đề cập giải quyết.

Đối với xe ô tô biển số 62D1 -192.56, do bị cáo V đứng tên giấy đăng ký xe mô tô, bị cáo sử dụng vào việc đánh nhau với P, hiện nay xe mô tô này bị cáo đã bán cho người thanh niên không rõ họ tên, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu hồi, nên không đề cập giải quyết.

Đối với điện thoại di động bị cáo N dùng để liên lạc với bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội, N đã bán điện thoại di động này cho người không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu giữ được, nên không đề cập giải quyết.

Đối với điện thoại di động bị cáo T1 dùng để liên lạc với bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội, T1 đã bán điện thoại di động này cho người không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu giữ được nên không đề cập giải quyết.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật Dân sự: tại phiên tòa, anh Nguyễn Minh P xác định yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 liên đới bồi thường thiệt hại cho anh tổng số tiền là 62.400.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Minh P số tiền 20.800.000 đồng, riêng bị cáo N được khấu trừ vào số tiền 15.000.000 đồng đã tự nguyện bồi thường trước.

[8]. Đối với Võ Văn Thanh G được Nguyễn Đình V rủ đi hỗ trợ đánh gây thương tích cho Nguyễn Minh P thì G đồng ý, nhưng khi đến đầu đường V Giàu tự ý chấm dứt hành vi phạm tội và có căn ngăn kêu Văn đừng đi đánh nhau. Giàu không nhìn thấy và cũng không tham gia cùng với V, N và T1 gây thương tích cho P nên hành vi của G không đồng phạm với V, N và T1 về tội cố ý gây thương tích.

Đối với Nguyễn Văn T2 cho Văn mượn 02 con dao tự chế (màu đen, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 50 cm). Tuy nhiên, T2 không biết Văn mượn 02 con dao tự chế để đi chém gây thương tích cho P nên hành vi Tánh không cấu thành tội phạm có liên quan.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này), điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình V 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Đình V 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14 tháng 11 năm 2024).

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này), điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Phương N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Phương N 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14 tháng 11 năm 2024).

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này), điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Ngọc T1 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14 tháng 11 năm 2024).

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Đình V có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Minh P số tiền 20.800.000 đồng.

Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc T1 có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Minh P số tiền 20.800.000 đồng.

Buộc bị cáo Trần Phương N có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Minh P số tiền 20.800.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 15.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003012 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa. Như vậy bị cáo Trần Phương N phải bồi thường tiếp cho anh P số tiền 5.800.000 đồng.

Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh số IMEI: 865815050600639, số IMEI 2: 865815050600621.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 sim Viettel số 0347.713.xxx.

Tang vật trên hiện nay do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý, theo biên bản giao vật chứng số 18-25/10/2024 ngày 25/10/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình V, Trần Phương N và Huỳnh Ngọc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Buộc các bị cáo Nguyễn Đình V phải chịu 1.040.000đồng, Trần Phương N phải chịu 300.000 đồng, Huỳnh Ngọc T1 phải chịu 1.040.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Án này là sơ thẩm, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Bình An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đình V và đồng phạm "Cố ý gây thương tích, điểm đ khoản 2 điều 134"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger