Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày: 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Khánhông Hoàng Luật

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 168/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 172/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024; Thông báo về việc dời lại thời gian mở phiên toà số: 328/TB-TA ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị Thành A, sinh năm 1992 tại Đồng Nai. “có mặt”

Nơi thường trú: số E, đường A, tổ C, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; Nơi tạm trú: tổ A, ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 06/12; con ông Trần Thành Đ – Không rõ năm sinh (đã chết) và bà Phạm Thị H, sinh năm 1962; Anh chị em ruột: 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Chồng: Đào văn T, sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2019)

Con: 01 người, sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2024 đến ngày 22/3/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

- Bị hại: Bà Phan Thị Ngọc D, sinh năm 1978 “có mặt”

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 12/3/2024, A đi từ nhà của A thuộc khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương đến nhà của bà D thuộc khu phố H, thị trấn Đ chơi. Tại đây, An mượn của bà D một chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-152.01 đi công việc. Trên đường đi, A bị người đàn ông tên C (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại đòi nợ nên nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô trên để lấy tiền trả nợ. A nói cho C biết A có một chiếc xe mô tô và không biết bán cho ai, C nói sẽ liên hệ người mua chiếc xe này và nói A mang xe đến khu vực Bệnh viện Đ1, huyện P, tỉnh Bình Dương. Khi đến Bệnh viện Đ1, A gặp hai người (một nam, một nữ chưa xác định được nhân thân, lai lịch), A đã bán xe mô tô cho 2 người này với giá 7.000.000 đồng, thanh toán bằng cách chuyển khoản vào số tài khoản 050086616952, ngân hàng S của A. Sau khi nhận được tiền, A rút 5.500.000 đồng tiền mặt trả nợ cho Chánh, còn 1.500.000 đồng A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 13/3/2024, không thấy A mang xe đến trả, bà D gọi điện thoại cho A nhưng không liên lạc được nên bà D đã trình báo sự việc đến Công an thị trấn Đ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Phạm Thị Thành A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Về tài sản thiệt hại:

01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-752.01. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận giá trị tài sản thiệt hại là 8.830.000 đồng.

Về vật chứng vụ án:

01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-752.01. Đây là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị Ngọc D, sinh năm 1978, trú tại khu phố H, thị trấn Đ. Hiện tài sản chưa thu hồi được.

Đối với người tên C và hai người mua chiếc xe trên, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục xác minh và xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Phan Thị Ngọc D yêu cầu Phạm Thị Thành A bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, hiện bị cáo A chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số 277/CT-VKSÐQ ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Phạm Thị Thành A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Thị Thành A từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị Thành A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Phan Thị Ngọc D theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng vụ án và án phí.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Thành A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 12/3/2024, tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Phạm Thị Thành A đã có hành vi mượn của bà Phan Thị Ngọc D 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B4-752.01 sau đó đã mang đi bán để lấy tiền tiêu xài. Giá trị tài sản thiệt hại là 8.830.000 đồng. Hành vi do bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 277/CT-VKSĐQ ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Phạm Thị Thành A về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo A là phụ nữ, nuôi con còn nhỏ, sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi của bất kỳ người nào xâm hại đến đều bị pháp luật xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ tài sản của người khác nên bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo ngoài việc xâm hại đến tài sản còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội

Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nhằm tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo đối với bị cáo A, buộc bị cáo phải chấp hành thời gian thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và cũng để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện lao động tự do, công việc không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà bà Phan Thị Ngọc D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Thị Thành A đồng ý bồi thường cho bà Phan Thị Ngọc D số tiền 10.000.000 đồng nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải bồi thường thiệt hại

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 175; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • - Các Điều 468, 584, 585, 590, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội Đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
  • - Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • - Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thành A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thành A 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/11/2024.

Giao bị cáo Phạm Thị Thành A cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường cho bà Phan Thị Ngọc D số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị Thành A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Định Quán;
  • - CCTHADS huyện Định Quán;
  • - UBND TT Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; Bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger