Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 161/2024/DS-ST

Ngày: 04-11-2024

V/v: “Tranh chấp

chia tài sản chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Lê Thị Kiều Thu
  • 2. Ông Phạm Định Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 256/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 247/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, Thông báo mở phiên tòa dân sự sơ thẩm số: 677/2024/TB-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 711/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Em T, sinh năm 1971
  • Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh H, sinh năm 1977
  • Địa chỉ: Khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Hợp đồng ủy quyền ngày 21 tháng 12 năm 2022).
  • - Bị đơn: Bà Lê Thị Thúy M, sinh năm 1980
  • Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP B (L1)
  • Trụ sở chính: Tòa nhà T1, số B T, Quận H, thành phố H.

Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/11/2022, bản tự khai, và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 2009, do là chỗ quen biết nên ông Nguyễn Em T có nhờ bà Lê Thị Thúy M đứng tên mua giùm 01 lô đất diện tích 188,9m² gồm 03 thửa đất: 832/82,4m², 483/11,5m², 833/95m², tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, mua của ông Tư K (tức ông Phạm Văn T2) với giá 176.000.000 đồng và làm thủ tục sang sổ qua tên bà M đứng tên giùm. Đến cuối năm 2009, khi ông T làm thủ tục xin giấy phép xây dựng để cất nhà ở nhưng không được, vì đất này nằm trong quy hoạch. Ông T có nói với bà M liên hệ ông Tư K xin nhận tiền và trả lại đất nhưng bà M không đồng ý, bà M nói lỡ mua rồi không trả lại được, và bà M đồng ý hùn tiền, đưa lại cho ông T số tiền là 66.000.000 đồng, bà M nói đất đó từ từ bán lại vì đất này bán lại không có lỗ. Sau đó, ông T đã liên hệ bà M nhiều lần để cùng nhau bán đất nhưng không được, bà M cố tình tránh mặt. Đến đầu năm 2014, khi phát hiện bà M đổ đất và chuẩn bị cất nhà trên đất nên ông T có gửi đơn lên UBND xã P nhờ giải quyết. Ngày 17/01/2014, UBND xã P hòa giải thì bà M nói là đã thế chấp sổ và bà M xin mượn ông T lô đất trên để cất nhà ở tạm trong 01 năm và hết 01 năm bà M sẽ chuộc sổ về hai bên sẽ bàn bạc tiếp tục. Sau đó, bà M cất 01 căn nhà tạm trên đất khoảng 50m² nhưng bà M không ở mà dùng làm kho chứa vật liệu xây dựng. Hết thời gian 01 năm, từ năm 2015, ông T tiếp tục nhiều lần liên hệ bà M để giải quyết vụ việc nhưng bà cố tình trốn tránh. Thấy đất bỏ trống nên năm 2017, ông T đến đổ đất, định xây nhà thì bà M gửi đơn ngăn chặn không cho ông T cất nhà trên đất nên hai bên tiếp tục phát sinh tranh chấp. UBND xã P tiếp tục tổ chức hòa giải thêm 02 lần nữa nhưng không thành. Ông T khởi kiện yêu cầu bà M chia tài sản chung là quyền sử dụng đất gồm 03 thửa (832/82,4m², 483/11,5m², 833/95m²) có tổng diện tích là 188,9m² thuộc tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo hình thức bà M hoàn lại cho ông T giá trị tài sản tương đương với tỷ lệ góp mua đất 62,5% là 1.916.875.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn trình bày: Thửa đất số 832, tờ bản đồ số 04, diện tích đất 82,4m²; thửa đất số 483, tờ bản đồ số 04, diện tích đất 11,5m²; thửa đất số 833, tờ bản đồ số 04, diện tích đất 95m² là do bà nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Văn T2 (thường gọi là ông Tư K) vào năm 2009 với giá trị 176.000.000 đồng. Bà được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/3/2009. Năm 2020, bà làm thủ tục vay tiền tại Ngân hàng V, Ngân hàng yêu cầu bà phải đo đạc lại để xác định đầy đủ tọa độ của đất thế chấp, nên bà đã tiến hành đo đạc lại và xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với các diện tích đất trên. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Em T vì ông T không góp tiền mua

2

các diện tích đất trên, các diện tích đất này là do bà tự bỏ tiền ra mua. Còn việc ông T góp tiền mua đất với bà là mua diện tích đất khác từ bà Đinh Thị L vào năm 2009 diện tích 8m x 28m cũng tại thôn X, xã P. Lúc đó bà L bán với giá 400.000.000 đồng, bà góp 200.000.000 đồng, ông T góp 200.000.000 đồng, sau đó bà bỏ tiền ra xây nhà trên đất này là 1.615.000.000 đồng, đất này được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Em T. Ông T hứa trả lại cho bà tiền mua đất, xây nhà, có làm Hợp đồng sang nhượng nhà, do ông T viết bằng tay, nội dung sang nhượng cho bà với số tiền 2.000.000.000 đồng. Bà có thế chấp các thửa đất số 832, 483, 833 (số thửa mới 610, 609, 611) tại Ngân hàng B. Do bà không trả nợ được nên Ngân hàng có khởi kiện bà tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, đã được giải quyết theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2022/QĐST-DS ngày 12/4/2022. Hiện nay Ngân hàng đang yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản thế chấp.

Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã có công văn gửi Chi nhánh Văn phòng Đ về việc cấp đổi các thửa đất trên và Chi nhánh Văn phòng Đ trả lời như sau:

  • - Thửa đất số 609, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114059 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020 được cấp đổi từ thửa đất số 832, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 676235 do UBND thành phố P cấp ngày 19/3/2009;
  • - Thửa đất số 611, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114062 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020 được cấp đổi từ thửa đất số 483, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 676236 do UBND thành phố P cấp ngày 19/3/2009;
  • - Thửa đất số 610, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114063 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020 được cấp đổi từ thửa đất số 833, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 676237 ngày 19/3/2009.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án nhưng bị đơn không đến, nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng B không có văn bản thể hiện ý kiến. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn đã

3

thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • - Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị Thúy M phải hoàn lại cho ông Nguyễn E Tám giá trị tài sản mà ông T sở hữu. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét thấy nguyên đơn ông Nguyễn Em T yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung”. Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; bị đơn có địa chỉ tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Em T yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số 609, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114059 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020 được cấp đổi từ thửa đất số 832, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 676235 do UBND thành phố P cấp ngày 19/3/2009; thửa đất số 611, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114062 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020 được cấp đổi từ thửa đất số 483, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 676236 do UBND thành phố P cấp ngày 19/3/2009; thửa đất số 610, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114063 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020 được cấp đổi từ thửa đất số 833, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 676237 ngày 19/3/2009. Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo như trình bày của bên nguyên đơn, năm 2009, ông Nguyễn Em T và bà Lê Thị Thúy M có góp tiền mua 03 thửa đất: 832/82,4m² (nay là thửa đất số 609,

4

tờ bản đồ số 24), 483/11,5m² (nay là thửa đất số 611, tờ bản đồ số 24), 833/95m² (nay là thửa đất số 610, tờ bản đồ số 24) tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, mua của ông Phạm Văn T2 (tức ông Tư K) với giá 176.000.000 đồng và bà M đứng tên giùm, số tiền ông T góp là 110.000.000 đồng, số tiền bà M góp là 66.000.000 đồng.

Biên bản hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2014 tại UBND xã P có thể hiện nội dung như sau: “Bà Lê Thị Thúy M thừa nhận là thống nhất theo đơn trình bày của ông Nguyễn E T là ông T có mua một lô đất từ ông Tư K, thuộc thôn X, xã P với số tiền là 176.000.000đ (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng). Ông T có nhờ bà đứng tên dùm thửa đất này và bà có đưa cho ông T số tiền là 66.000.000đ (Sáu mươi sáu triệu đồng)” .

Theo Biên bản hòa giải ngày 20 tháng 4 năm 2017 tại UBND xã P, ý kiến của bà Lê Thị Thúy M như sau: “Năm 2009, bà M và ông T có tình cảm với nhau và ông T có mua lại của ông Tư K một mảnh đất trị giá 176.000.000đ. Do hiện nay bà M đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác. Nay số tiền trên đã tăng quá lớn không trả nổi. Nay bà M đề nghị được trả 110.000.000đ cho ông T để bà M được toàn quyền sử dụng mảnh đất trên...

Bà M sẽ trả lại số tiền mà ông Nguyễn Em T hùn mua mảnh đất lúc ban đầu là 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng)”.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai ông Phạm Văn T2 (là người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 833, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 068136 ngày 28/4/2008; thửa đất số 832, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 068135 do UBND thành phố P cấp ngày 28/4/2008; thửa đất số 483, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 701616 do UBND thành phố P cấp ngày 08/5/2006), ông T2 khai khoảng năm 2009, ông có chuyển nhượng thửa đất số 832/diện tích 82,4m², thửa đất số 483/diện tích 11,5m², thửa đất số 833/diện tích 95m² thuộc tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại mặt đường P như trên cho bà Lê Thị Thúy M; số tiền chuyển nhượng bao nhiêu ông không nhớ chính xác, chỉ nhớ từ 170.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Thúy M cho rằng bà và ông Nguyễn Em T hùn tiền mua đất từ bà Đinh Thị L, bà M góp 200.000.000 đồng, ông T góp 200.000.000 đồng. Tòa án đã có văn bản yêu cầu bà M cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình nhưng bà M không cung cấp, điều này đồng nghĩa với việc đương sự đã từ bỏ quyền chứng minh, và phải chịu hậu quả về việc không chứng minh này. Đồng thời, việc bà trình bày bà và ông T mỗi người góp 200.000.000 đồng là mâu thuẫn với lời trình bày trong các buổi hòa giải tại UBND xã P.

Lời trình bày của ông Nguyễn Em T phù hợp với lời trình bày của bà Lê Thị Thúy M trong các Biên bản hòa giải tại UBND xã P, phù hợp với lời khai của ông Phạm Văn T2. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận, có cơ sở xác định: Năm 2009, ông Nguyễn E tám và bà Lê Thị Thúy M có góp với nhau số tiền 176.000.000 đồng

5

(trong đó ông T góp 110.000.000 đồng, bà M góp 66.000.000 đồng) để nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Văn T2 các thửa đất 832/82,4m², 483/11,5m², 833/95m², tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và do bà Lê Thị Thúy M đứng tên. Các thửa đất này đã được cấp đổi thành các thửa 609, 611, 610 đứng tên bà Lê Thị Thúy M theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 114059, CV 114062, CV 114063 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/7/2020. Bà M đã thế chấp quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên cho khoản vay của mình tại Ngân hàng B. Do bà không trả nợ được nên Ngân hàng có khởi kiện bà tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, đã được giải quyết theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2022/QĐST-DS ngày 12/4/2022. Hiện nay Ngân hàng đang yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản thế chấp.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung tương đương với giá trị đất theo tỷ lệ góp của nguyên đơn như sau:

Số tiền ông T góp 110.000.000 đồng trong tổng số tiền 176.000.000 đồng tương đương 62,5% và bà M góp 66.000.000 đồng tương đương 37,5%. Theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần G và thẩm định giá tài sản Việt Nam chi nhánh H1, tổng giá trị quyền sử dụng đất các thửa đất số 609, 610, 611 là 3.067.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo trị giá tài sản như trên và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không cung cấp mức giá nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức giá trị tài sản mà bên nguyên đơn cung cấp là 3.067.000.000 đồng. Tính giá trị tài sản tương đương với tỷ lệ góp như sau:

  • 62,5% x 3.067.000.000 đồng = 1.916.875.000 đồng.
  • 37,5% x 3.067.000.000 đồng = 1.150.125.000 đồng.

Bà Lê Thị Thúy M có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Nguyễn E Tám số tiền 1.916.875.000 đồng tương đương với giá trị phần tài sản mà ông T được sở hữu.

[3] Về án phí:

Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần giá trị được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Nguyên đơn, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với phần giá trị được hưởng theo quy định tại Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

6

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 144, khoản 2 Điều 147, Điều 157, Điều 165; Điều 227, Điều 228, Điều 262, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 158, Điều 166, Điều 209, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Em T
  2. Buộc bà Lê Thị Thúy M hoàn lại cho ông Nguyễn E T số tiền 1.916.875.000 đồng (một tỷ chín trăm mười sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) là phần giá trị tương đương với tỷ lệ tài sản mà ông Nguyễn Em T được quyền sở hữu.

  3. Về án phí:
  4. Ông Nguyễn Em T phải chịu 69.506.250 đồng (sáu mươi chín triệu năm trăm lẻ sáu ngàn hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Em T đã nộp 31.250.000 đồng (ba mươi mốt triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013940 ngày 24/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Ông Nguyễn Em T phải tiếp tục nộp 38.256.250 đồng (ba mươi tám triệu hai trăm năm mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi đồng).

    Bà Lê Thị Thúy M phải chịu 46.503.750 đồng (bốn mươi sáu triệu năm trăm lẻ ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
  6. Ông Nguyễn Em T phải chịu 14.750.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông T đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

    Bà Lê Thị Thúy M phải chịu 8.850.000 đồng (tám triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Bà Lê Thị Thúy M có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn E Tám số tiền 8.850.000 đồng (tám triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản do ông Nguyễn Em T đã nộp tạm ứng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải

7

thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về quyền kháng cáo:
  2. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/11/2024). Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Lê Thảo Nguyên

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/DS-ST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp chia tài sản chung

  • Số bản án: 161/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger