Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-5-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa
Ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa:

Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 1997;

Địa chỉ cư trú: Tổ G, xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Kế T, sinh năm 1991;

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang cư trú tại: Hàn Quốc; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Kế Q; sinh năm 1961;

Bà Trần Thị P, sinh năm 1969;

Cùng địa chỉ cư trú: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng N trình bày:

Chị và anh Lê Kế T tổ chức lễ cưới và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 17 tháng 01 năm 2017. Sau khi kết hôn, đến giữa năm 2017, anh T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và hiện đang làm việc tại Hàn Quốc. Từ khi anh T đi nước ngoài, thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau, nhưng từ đầu năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không thường xuyên liên lạc cũng như không quan tâm đến đời sống của nhau. Hiện tại chị nhận thấy, chị và T không còn tình cảm, sống xa nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Kế T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017. Hiện con chung đang ở với ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P (cha mẹ anh T). Nếu ly hôn, do anh T đang ở nước ngoài nên chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con đến lúc trưởng thành và chưa yêu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lê Thị Hồng N hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Lê Kế T, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của anh Lê Kế T là ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P (cha mẹ của anh T) đến lần thứ hai mà thân nhân của anh T cũng không cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời, cho đến nay anh T cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P có đơn trình bày:

Ông bà là cha mẹ của anh Lê Kế T, anh T kết hôn với chị Lê Thị Hồng N vào ngày 17/01/2017 và có 01 con chung là Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017. Đến giữa năm 2017, anh T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và hiện đang làm việc tại Hàn Quốc. Sau khi anh T đi nước ngoài một thời gian thì chị N về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ, cháu Đ sống cùng với ông bà từ đó đến nay. Thời gian ở nước ngoài, anh T thỉnh thoảng có liên lạc về hỏi thăm sức khỏe gia đình. Tuy nhiên, do anh T không nói rõ địa chỉ nên gia đình không thể cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án được. Về phía gia đình đã thông tin cho anh T biết chị N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T cũng đồng ý ly hôn. Về công sức trông nom, chăm sóc cháu Đ thì ông bà không yêu cầu anh T và chị N phải thanh toán. Do tuổi cao, đi lại khó khăn nên ông, bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P (cha mẹ của anh T) có đơn trình bày: Ông bà là cha mẹ của anh Lê Kế T, anh T kết hôn với chị Lê Thị Hồng N vào ngày 17/01/2017 và có 01 con chung là Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017. Đến giữa năm 2017, anh T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và hiện đang làm việc tại Hàn Quốc. Thời gian ở nước ngoài, anh T thỉnh thoảng có liên lạc về hỏi thăm sức khỏe gia đình. Tuy nhiên, do anh T không nói rõ địa chỉ nên gia đình không thể cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án được. Về phía gia đình đã thông tin cho anh T biết chị N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T cũng đồng ý ly hôn nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Việc anh Lê Kế Thanh vắng m được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Hồng N, cho chị N được ly hôn với anh Lê Kế T. Về con chung: Đề nghị giao cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Lê Thị Hồng N, ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu và anh T chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Hồng N hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Kế T hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn anh Lê Kế T không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng N đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P đã có đơn trình bày nộp cho Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa. Chị N, ông Q và bà P phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu, chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Bị đơn anh Lê Kế T hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T thông qua người thân là ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P (cha mẹ của anh T) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Lê Kế T”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu anh T trình bày ý kiến về việc chị N có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh T cũng không cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P có đơn trình bày: Ông bà là cha mẹ của anh Lê Kế T, anh T kết hôn với chị Lê Thị Hồng N vào ngày 17/01/2017 và có 01 con chung là Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017. Đến giữa năm 2017, anh T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và hiện đang làm việc tại Hàn Quốc. Thời gian ở nước ngoài, anh T thỉnh thoảng có liên lạc về hỏi thăm sức khỏe gia đình. Tuy nhiên, do anh T không nói rõ địa chỉ nên gia đình không thể cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án được. Về phía gia đình đã thông tin cho anh T biết chị N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T cũng đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 18/4/2024 và lần thứ hai vào ngày 17/5/2024 nhưng cả hai lần anh T đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh Lê Kế Thanh vắng m thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng N và anh Lê Kế T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 17 tháng 01 năm 2017, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị N trình bày: Sau khi kết hôn, đến giữa năm 2017, anh T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và hiện đang làm việc tại Hàn Quốc. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau, nhưng từ đầu năm 2018 trở đi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên ít liên lạc, không quan tâm đến đời sống của nhau. Theo Công văn số 7382/QLXNC-P3 ngày 11/4/2024 của Cục Q1, Bộ C cung cấp: Anh Lê Kế T đã xuất nhập cảnh 05 lần, lần cuối xuất cảnh ngày 25/7/2017 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng N và anh Lê Kế T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Theo chị N trình bày, vợ chồng có 01 con chung. Nay ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của chị N phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay chị N đang cư trú ở Việt Nam và có nguyện vọng được nuôi con, còn anh T đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Về phía ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N. Giao cho chị Lê Thị Hồng N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Lê Thị Hồng N, ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Hồng N không yêu cầu và anh Lê Kế T chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Hồng N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng N được ly hôn anh Lê Kế T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Hồng N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thành Đ, sinh ngày 12/02/2017 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.

    Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Lê Thị Hồng N, ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

    Sau khi ly hôn, anh Lê Kế T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012686 ngày 27/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Lê Thị Hồng N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hồng N, ông Lê Kế Q và bà Trần Thị P có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Lê Kế T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, NA
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 161/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa N và T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger