Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Võ Văn Lợi.
  2. Ông Nguyễn Cửu Long.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.

(Điểm cầu trung tâm).

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Mạnh Đ, sinh năm 1992 tại tỉnh Nam Định; Nơi thường trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở hiện tại: 5 N, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Vũ Xuân Đ1, sinh năm 1954; Mẹ: Mai Thị T, sinh năm 1957; Vợ: Tiêu Bích T1; Con: Có 01 con Vũ Lâm Tuệ N, sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/11/2023, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: 5 N, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Hộ kinh doanh cầm đồ L – Chủ hộ: Đào Tùng L; Địa chỉ hộ kinh doanh: 51 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Tống Văn H1, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Văn bản ủy quyền lập ngày 08/7/2023 tại Văn phòng C) có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. Anh Đỗ Viết S, sinh năm 2000

Địa chỉ: A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Mạnh Đ (sinh năm 1992) và Nguyễn Đình H (sinh năm 1993) là bạn bè quen biết với nhau và cùng hùn hạp buôn bán hủ tíu chung tại các vỉa hè không cố định trên địa bàn phường B. Quá trình sinh sống và làm ăn chung, Đ và H ở cùng phòng trọ tại địa chỉ số E N, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Để thuận tiện cho việc buôn bán và đi lại nên H đưa xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, biển kiểm soát 37K1-936.94 của mình cho Đ sử dụng chung. Khoảng 10 giờ ngày 26/6/2023, Đ điều khiển xe mô tô trên ra địa điểm bán hủ tiếu dọn dẹp rồi quay trở về phòng trọ. Lúc này, Điều quan sát thấy H đã ngủ say nên nảy sinh ý định đem xe của H đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Điều lục trong túi quần của H đang treo trên móc treo quần áo và lấy từ trong bóp ra giấy chứng nhận đăng ký xe rồi điều khiển xe mô tô trên đến Cửa hàng cầm đồ “L" địa chỉ A N, phường B, thành phố T do ông Tống Văn H1 sình năm 1988, trú tại: Số D N, phường T, thành phố T làm chủ cầm xe mô tô trên cho anh Đỗ Viết S, sinh năm 2000, trú tại: 139, N, phường B, thành phố T, Thành phố H là nhân viên cửa hàng với giá 13.000.000 (mười ba) đồng. Khi nhận cầm cố, anh S kiểm tra thấy xe không chính chủ và hỏi Điều về nguồn gốc xe thì Đ nói dối là xe của mình mua nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên. Tin lời nói của Điều là thật nên anh S đã làm biên nhận cầm xe cho Điều. Số tiền phạm tội có được, Điều tiêu xài cá nhân hết rồi bỏ trốn. H thức dậy phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe không còn và không liên lạc được với Điều nên trình báo sự việc đến Công an phường B, thành phố T. Tại cơ quan Công an, Điều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số: 176-KV1/KLDG-HĐĐGTS, ngày 03/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade đăng ký lần đầu năm 2019 màu đỏ đen, biển số 37K1- 936.94, dung tích 124cm³, số máy JF63E2524107, số khung: 6329KZ107095 có giá trị 27.333.000 đồng”.

* Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, biển kiểm soát 37K1-936.94 là tài sản của anh Nguyễn Đình H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H;

- 01 áo thun màu trắng ngắn tay có sọc hai bên thân áo; 01 quần Jeans dài màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 đôi dép nhựa màu xanh đen, có quai ngang sọc, xám đen và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10, 5G màu kem thu giữ của Vũ Mạnh Đ.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Đình H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm. Anh Tống Văn H1 – đại diện Cửa hàng cầm đồ Lâm P yêu cầu Vũ Mạnh Đ bồi thường số tiền 13.000.000 (mười ba triệu) đồng là tiền Điều cầm xe chiếm đoạt, Điều chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKSTPTĐ ngày 07/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Vũ Mạnh Đ về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị hại anh Nguyễn Đình H có lời khai không yêu cầu bị cáo Vũ Mạnh Đ bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Mạnh Đ về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Mạnh Đ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun màu trắng ngắn tay có sọc hai bên thân áo; 01 quần Jeans dài màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 đôi dép nhựa màu xanh đen, có quai ngang sọc, xám đen. Giữ lại 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10, 5G màu kem để khắc phục hậu quả bồi thường cho Cửa hàng cầm đồ Lâm P, đảm bảo việc thi hành án.

- Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Mạnh Đ phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định.

Bị cáo Vũ Mạnh Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Đ đồng ý bồi thường cho Cửa hàng cầm đồ Lâm P số tiền 13.000.000 (mười ba triệu) đồng.

Vũ Mạnh Đ nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Mạnh Đ phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Ngày 26/6/2023, Vũ Mạnh Đ được Nguyễn Đình H giao xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade đăng ký lần đầu năm 2019 màu đỏ đen, biển số 37K-936.94, dung tích 124m², số máy JF63E2524107, số khung: 6329KZ107095 có giá trị 27.333.000 (Hai mươi bảy triệu ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng để sử dụng phục vụ mục đích kinh doanh nhưng sau đó Điều nảy sinh ý định chiếm đoạt và đem xe mô tô trên đến cửa hàng C1, địa chỉ số A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cầm lấy số tiền 13.000.000 (mười ba triệu) đồng rồi bỏ trốn.

Hành vi của Vũ Mạnh Đ đã phạm vào tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Vũ Mạnh Đ về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Đỗ Viết S khi nhận cầm cố tài sản do không biết đây là tài sản do Điều phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Mạnh Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Vũ Mạnh Đ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin bãi nại. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, gây mất trật tự trị an, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, do đó khi lượng hình cần đưa ra mức án phù hợp cho bị cáo, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại anh Nguyễn Đình H không yêu cầu bị cáo Vũ Mạnh Đ bồi thường dân sự. Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tống Văn H1 yêu cầu bị cáo Vũ Mạnh Đ bồi thường số tiền 13.000.000 (mười ba triệu) đồng, bị cáo Đ đồng ý bồi thường. Xét ý kiến của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, biển kiểm soát 37K1-936.94 là tài sản của anh Nguyễn Đình H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H. Hội đồng xét xử ghi nhận.

- 01 áo thun màu trắng ngắn tay, có sọc hai bên thân áo; 01 quần Jeans - dài màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 đôi dép nhựa màu xanh đen, có quai ngang sọc xám đen. Xét những đồ vật nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10, 5G màu kem thu giữ của Vũ Mạnh Đ. Xét đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần hoàn trả lại cho bị cáo Vũ Mạnh Đ.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh Đ phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh Đ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 584 và Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Vũ Mạnh Đ có nghĩa vụ bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hộ kinh doanh cầm đồ L – Chủ hộ: Đào Tùng L số tiền 13.000.000 (mười ba triệu) đồng.

Kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hộ kinh doanh cầm đồ Lâm Phát – Chủ hộ: Đào Tùng L có đơn đề nghị thi hành án, nếu Vũ Mạnh Đ không trả đủ số tiền cho H2 kinh doanh cầm đồ Lâm P – Chủ hộ: Đào Tùng L thì Vũ Mạnh Đ phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu trắng ngắn tay, có sọc hai bên thân áo; 01 quần Jeans - dài màu xanh; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen; 01 (một) đôi dép nhựa màu xanh đen, có quai ngang sọc xám đen.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Mạnh Đ 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10, 5G màu kem thu giữ của Vũ Mạnh Đ.

(Theo Phiếu nhập kho số: NK24/171C ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vũ Mạnh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 (sáu trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Mạnh Đ - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger