TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2023/HS-ST Ngày 16/11/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Trường và bà Trần Thị Lan Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 16/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2023/HSST ngày 05/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2023/QĐXXST-HS ngày 06/11/2023, đối với bị cáo:
* Mai Ngọc T, sinh năm 1992 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Mai Ngọc T1, sinh năm 1969, con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Ngày 25/9/2014, tại bản án số 22/2014/HSST, Mai Ngọc T bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 54 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngày 03/03/2016, tại bản án số số 15/2016/HSST, Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa bị cáo Mai Ngọc T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Mai Ngọc T phải chịu hình phạt là 68 tháng 17 ngày tù; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.
Người chứng kiến: Bà Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1990. Nơi cư trú: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Chu Ngọc K, sinh năm 1996. Nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 11/7/2023, tại đường bê tông khu K, khu đô thị D city thuộc thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh H bắt quả tang Mai Ngọc T, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đang mang ma túy đi bán. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái 01 gói nilon màu trắng bên trong có 74 gói nilon nhỏ đều chứa các cục và bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1). Ngoài ra Cơ quan điều tra Công an tỉnh H quản lý của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO kèm 01 sim liên lạc và số tiền 650.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 419/KL-KTHS(MT) ngày 14/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chất dạng cục và bột màu trắng niêm phong ghi ký hiệu M1 là ma túy loại heroine (Heroin), có khối lượng 1,866gam.
Kết quả điều tra: Mai Ngọc T khai nhận số ma túy (heroine) đã thu giữ của T mua về mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Mai Ngọc T khai nhận khoảng 7 giờ ngày 11/7/2023, T đến khu vực cầu T, huyện G, Thành phố Hà Nội mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 5.600.000 đồng được 80 gói. T đã sử dụng 01 gói; bán 05 gói cho một công nhân không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 500.000 đồng; số ma túy còn lại 74 gói, T đang chờ để tiếp tục bán đã bị Công an tỉnh H bắt quả tang.
Đối với người đã bán ma túy và mua ma túy của T, do T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ thông tin xác minh xử lý.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- - 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 149/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 Công an tỉnh H bên trong chứa 1,807gam ma túy, loại Heroine; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO kèm 01 sim liên lạc hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh H.
- - Số tiền 650.000 đồng hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh H
Cáo trạng số 150/CT-VKS-P1 ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Mai Ngọc T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Mai Ngọc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Mai Ngọc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc T từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Mai Ngọc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản giữ người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 419/KL- KTHS(MT) ngày 14/7/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 11/7/2023, tại đường bê tông khu K, khu đô thị D city thuộc thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Mai Ngọc T mang 74 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 1,866 gam nhằm mục đích để bán đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang.
Bị cáo Mai Ngọc T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tái phạm và chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Mai Ngọc T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. - [3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội cố ý và chưa được xóa án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, khó cải tạo. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
- [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân than của bị cáo;
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án chưa được xóa án tích. - [5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- [6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
- - Trong số tiền 650.000 đồng thu của bị cáo Mai Ngọc T có 500.000 đồng bị cáo khai là tiền bị cáo bán ma túy mà có, tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa không làm rõ được người mua ma túy của bị cáo do đó chưa đủ căn cứ để tịch thu số tiền này và số tiền còn lại 150.000 đồng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo số tiền 650.000 đồng.
- [7]. Về án phí: Bị cáo Mai Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- [1]. Tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Mai Ngọc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- - Xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc T 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/7/2023.
- [3]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 419/KL-KTHS(MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H, có hai chữ ký và ba con dấu tròn bên trong chứa 1,807 gam ma túy, loại Heroine.
- - Trả lại bị cáo Mai Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh kèm 01 sim liên lạc và số tiền 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- Số tiền trên đang gửi tại tài khoản tạm thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H.
- - (Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 80/QĐ-VKS-P1 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
- [4]. Về án phí: Bị cáo Mai Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
- [5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Biểu |
Bản án số 157/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 157/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Ngọc T - Mua bán trái phép chất ma túy
