|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 161/2024/HS-ST Ngày 16-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Tiến Thịnh
- Bà Trần Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo: Vũ Văn Q, sinh ngày 18 tháng 4 năm 1992 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K (đã chết) và bà Lưu Thị H; vợ: Nguyễn Thị H1, con: 01 con; nhân thân: Bản án số 59/2011/HSST ngày 11/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/8/2011, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 11 năm 2011. Bản án số 73/2017/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2019; đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/01/2018; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 18/6/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình. (có mặt).
*Người chứng kiến:
- Anh Phạm Ngọc B, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 12/6/2024, Vũ Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng biển số đăng ký 17B7-074.02 từ nhà ở đến khu vực chợ Q1, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình mua của một người nam giới nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, Q cầm gói Heroine ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô để tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe đến khu đường L thuộc tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị Tổ công tác Công an thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Ngọc B và anh Phạm Văn T, Q đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của Q ra giao nộp cho Tổ công tác 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai đó là H2 của Q vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 886/KL-KTHS(MT) ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Vũ Văn Q gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1664 gam.
Cáo trạng số 165/CT-VKSTPTB ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với bị cáo Vũ Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Ngoài ra đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo Vũ Văn Q đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Vũ Văn Q nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ ngày 12/6/2024, tại khu vực đường L thuộc tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Tổ công tác của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1664 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Vũ Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...c) Heroin, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Vũ Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Vũ Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do bị cáo đã từng bị xét xử về tội phạm ma túy nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
[7]. Về xử lý vật chứng:
[7.1]. Số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7.3]. Đối với một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số 17B7 -074.02 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H1 (là vợ bị cáo Q). Chị H1 không biết bị cáo Q sử dụng xe của chị sử dụng vào việc mua ma túy nên cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8]. Về nguồn gốc số ma túy bị cáo Vũ Văn Q khai mua ma túy của một người nam giới nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực chợ Q1, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý
[9]. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn Q, chị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 12/6/2024).
- Phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn Q 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Vũ Văn Q còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 886/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 Công an tỉnh T.
- Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình trả lại một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số 17B7 - 074.02 cho chị Nguyễn Thị H1.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2024).
- Về án phí: Bị cáo Vũ Văn Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn Q, chị Nguyễn Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2024).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 161/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Q
