Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/7/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Liêu Khăng;
  2. Ông Lý Đạt Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28/5/2024 về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0774.480.xxx hoặc 0376933170

* Bị đơn: Chị Quách Nguyễn Hồng H, sinh năm 1980 (vắng mặt)

HKTT: Tổ F, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang. Tạm trú: Số C, tổ F, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0326.890.xxx hoặc 0362589502

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Minh S trình bày: Tôi với chị Quách

Nguyễn Hồng H chung sống từ năm 2001, có tổ chức lễ cưới và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã B, huyện T, tỉnh An Giang ngày 05/12/2017. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 vợ chồng thường xuyên cự cãi về vấn đề kinh tế, vợ tôi phân bì nói là đất đai, tài sản đều do bên vợ cho bên chồng không cho gì khiến tôi rất buồn, sau đó vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Trong năm 2018 vợ chồng xảy ra cự cãi lớn rồi vợ tôi bỏ về nhà mẹ ruột ở. Tôi cũng cố gắng liên hệ với chị H để hàn gắn nhưng không được.

Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Quách Nguyễn Hồng H. Về con chung: có 01 người con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/02/2002 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn chị Quách Nguyễn Hồng H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Quách Nguyễn Hồng H nhưng chị H đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị H.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh S, chị H tại biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2024 của người làm chứng ông Dư Văn T (anh rể của anh S) thể hiện: “………Anh S, chị H do tự tìm hiểu sau đó có tổ chức lễ cưới ở ấp B, xã B và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì anh S, chị H sống ở nhà cha mẹ anh S, thời gian đầu vợ chồng anh S, chị H rất hạnh phúc và có 01 người con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/02/2002 (hiện đã trưởng thành, đã đi làm ở thành phố), sau đó năm 2018 thì không biết tại sao chị H lại bỏ về nhà cha mẹ ruột chị ta ở, nghe nói hai vợ chồng cự cãi gì đó rồi chị H bỏ đi. Sau đó anh S có đi tìm nhưng chị H lánh mặt nên không thể hàn gắn được...”

Tại phiên tòa: Anh Nguyễn Minh S có mặt; bị đơn chị Quách Nguyễn Hồng H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh S được ly hôn với chị H. Về con chung: Con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/02/2002 đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ

chung: Không xem xét. Về án phí: Anh S yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Bị đơn chị Quách Nguyễn Hồng H cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa hôm nay chị H vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh S tự nguyện chung sống với chị Quách Nguyễn Hồng H và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh An Giang ngày 05/12/2017. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, anh S và chị H có một thời gian dài chung sống hạnh phúc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc thể hiện bằng việc anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không có động thái hàn gắn và không quan tâm lẫn nhau. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh S và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S với chị H.

[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ anh S cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì anh S và chị H có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/02/2002 hiện đã trưởng thành, tự lao động được, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

[2.3.1] Về tài sản chung: Anh S trình bày tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3.2] Về nợ chung: Anh S trình bày không có nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh S là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh S được ly hôn với chị Quách Nguyễn Hồng H.
  2. Về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con: Con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/02/2002 hiện đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình và các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung:
    • Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Minh S trình bày tự thỏa thuận nên không đặt ra giải quyết.
    • Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Minh S trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Nguyễn Minh S và chị Quách Nguyễn Hồng H phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
  4. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013913 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh Nguyễn Minh S đã nộp xong. Chị Quách Nguyễn Hồng H không phải chịu án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền

yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Bình Thành, h. Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 161/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger