Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Thương

Ông Vũ Văn Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Tạ Kim Sơn T1, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở trước khi bị bắt: 5 T, phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Tạ Kim Sơn T2, sinh năm 1970; Mẹ: Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1970; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 03/01/2024, Tạ Kim Sơn T1 bị Công an phường G, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ – CP, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, T1 đã nộp phạt xong.

Bị bắt tạm giam từ ngày 09 tháng 01 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1970; Địa chỉ: 5 T, phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại trước địa chỉ hẻm A đường B, phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang Tạ Kim Sơn T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ vật chứng liên quan trong vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an phường E, TP V đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng và tài sản đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Tạ Kim Sơn T1 khai nhận: Bản thân T1 sử dụng ma túy từ năm 2016. Ngày 07/01/2024, T1 được một người bạn đi chung ghe trước đây (không rõ nhân thân lai lịch) cho 01 gói ma túy đá (Methamphetamine). T1 đã sử dụng một ít trong gói ma túy được cho, phần còn lại T1 cất giấu để sử dụng. Ngày 09/01/2024, T1 muốn mua thêm ma túy để sử dụng nên mang theo gói ma túy được cho trước đó, điều khiển xe máy hiệu Yamaha màu đen bạc, biển số 72L2-5644 đi đến khu vực xóm B, phường T, TP V hỏi thì gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch). Người này bán cho T1 01 gói ma túy đá (M) với giá 400.000 đồng. T1 cất giấu ma túy trong người với mục đích để sử dụng. Khoảng 14 giờ 30 phút, khi T1 đang đi đến hẻm A đường B, phường E, TP V thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên (Các bút lục điều tra từ số 44. đến 60)

Lời khai của Tạ Kim Sơn T1 phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục điều tra số 20), phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Hà Thanh S (bút lục điều tra số 67,68), phù hợp với chứng cứ thu thập được.

Tại Kết luận giám định số 111/KL-KTHS-MT ngày 15/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường E – CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Vũ Kiên C, Trịnh Duy H1, Tạ Kim Sơn T1, Hà Thanh S, bên trong có 02 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh khoong màu trong suốt có khối lượng 0,3687 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (Bút lục điều tra số 25)

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản sau:

  • 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu - trong suốt, qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,3687 gam (phong bì niêm phong số 111 ngày 15/01/2024). Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
  • 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen, số IMEI 1: 352766243991213, IMEI 2 352766243991221 đã qua sử dụng.
  • 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 72L2 – 5644; Số khung: 5606Y - 000607; Số máy: 2B56-000607

Tạ Kim Sơn T1 khai xe máy trên là xe được mẹ là bà Lê Thị Mỹ H cho. Qua làm việc, bà H cho rằng bà mua xe máy trên từ lâu cho T1 sử dụng, không nhớ rõ mua của ai, chỉ nhớ giá mua 1.500.000 đồng. Khi mua có giấy tờ nhưng đã bị thất lạc. Qua xác minh xác định xe máy máy hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 72L2 – 5644, số khung: 5606Y-000607, số máy: 2B56-000607 do bà Ngô Thị Bích N (P, P, Đ) đứng tên chủ sở hữu, bà N mua chiếc xe năm 2007, sau đó bà N bán lại chiếc xe trên nhưng bà không nhớ bán cho ai và bán khi nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe máy trên, nhưng đến nay không ai đến nhận.

Các vật chứng, tài sản nêu trên được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 106/CT-VKSTPVT ngày 10/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Tạ Kim Sơn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tạ Kim Sơn T1 mức án từ 15 đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy (phong bì niêm phong số 111 ngày 15/01/2024); Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen, số IMEI 1: 352766243991213, IMEI 2 352766243991221 đã qua sử dụng; Trả lại cho bà Lê Thị Mỹ H 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 72L2 – 5644; Số khung: 5606Y -000607; Số máy: 2B56-000607.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại trước địa chỉ hẻm A đường B, phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường E, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang Tạ Kim Sơn T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3687 gam ma túy, loại Methamphetamine. T1 tàng trữ số ma túy này để sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi Tạ Kim Sơn T1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01phong bì niêm phong số 111 ngày 15/01/2024
  • 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen, số IMEI 1: 352766243991213, IMEI 2 352766243991221 đã qua sử dụng, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
  • Trả lại cho bà Lê Thị Mỹ H 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 72L2 – 5644; Số khung: 5606Y -000607; Số máy: 2B56-000607 vì đây là xe của bà H, bà cho bị cáo mượn và không biết bị cáo sử dụng đi phạm tội.

[6] Đối với người bạn từng đi chung ghe (không rõ nhân thân lai lịch) cho T1 ma túy và người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) bán ma túy cho T1, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T tiếp tục xác minh, truy bắt để xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Kim Sơn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Tạ Kim Sơn T1: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01phong bì niêm phong số 111 ngày 15/01/2024;
  • Trả lại cho bị cáo T1: 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen, số IMEI 1: 352766243991213, IMEI 2 352766243991221 đã qua sử dụng;
  • Trả lại cho bà Lê Thị Mỹ H 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 72L2 – 5644; Số khung: 5606Y -000607; Số máy: 2B56-000607.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 170/BB - CCTHADS ngày 22/4/2024.

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Tạ Kim Sơn T1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Kim Sơn Thành
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger