Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:161/2024/DSPT

Ngày 17 tháng 7 năm 2024

V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà, ông Nguyễn Hoàng Thám.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số:102/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024; tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 154/2024/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn:

1.1 Ông Lê Minh H, sinh năm 1970; cư trú: số A, đường T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

1.2 Bà Trương Thị Lệ P, sinh năm 1971; cư trú: số A, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà P: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1983; cư trú: số C đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trương Nhứt T1, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Phương K, sinh năm 1979 (có mặt)

Cùng cư trú: số B đường T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có Luật sư Đoàn Thiện Đ – Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ số: 1 đường C, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mỹ T2, sinh năm 1958; nơi đăng ký thường trú: số I khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

Do có kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với hai thửa đất và nhà ở tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang từ bà Nguyễn Thị Mỹ T2 vào năm 2019. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H và bà P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở, cụ thể như sau:

- Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 238,7m²; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: lâu dài; và nhà ở thuộc loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 82,8m², diện tích sàn 210,8m², cấp nhà: loại 2.2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT183234, số vào sổ cấp GCN: CS08378 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 31 tháng 10 năm 2019 cho ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P.

- Thửa đất số 99, tờ bản đồ số 31, diện tích 245,3m²; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: lâu dài; và nhà ở thuộc loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 82,8m², diện tích sàn 210,8m², cấp nhà: loại 2.2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT183235, số vào sổ cấp GCN: CS08379 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 31 tháng 10 năm 2019 cho ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P.

Ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K có phần đất giáp ranh với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 31 của ông H, bà P. Trong quá trình sử dụng đất, ông T1, bà K xây nhà đã lấn chiếm qua phần đất thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 31 với diện tích ngang 0,4m x dài 48m = 19,2m². Vì vậy, ông H, bà P đã yêu cầu ông T1, bà K trả lại phần đất lấn chiếm nhưng ông T1, bà K không thực hiện. Ông H, bà P có báo chính quyền địa phương can thiệp; nhưng khi Ủy ban nhân dân phường M tổ chức hòa giải thì cả hai bên không thỏa thuận được.

Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà từ bà Nguyễn Thị Mỹ T2 thì ông H, bà P có đưa cho bà T2 số tiền 200.000.000 đồng để bà T2 đưa cho ông T1, bà K với mục đích nhận chuyển nhượng lại phần đất của ông T1, bà K mà bà T2 đã xây dựng nhà trên đó.

Bị đơn ông Trương Nhứt T1 và bà Nguyễn Phương K thống nhất trình bày: Vào ngày 19 tháng 3 năm 2019, vợ chồng ông T1, bà K có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Nam H1 và bà Nguyễn Thị Nam T3 quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với thửa đất và nhà ở trên đất diện tích 633m², ngang mặt tiền 13m; mặt hậu 13m, ngang 01 bên 47,64m; 01 bên 50,33m² tọa lạc tại khóm T, phường M, thành phố, L, tỉnh An Giang và được sang tên chuyển quyền điều chỉnh trang 4 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trương Nhứt T1 và Nguyễn Phương K, theo hồ sơ số: 1890/19. Khi ông T1, bà K sang nhượng phần đất trên thì đã có sẵn một căn nhà của bà H1, bà T3.

Khoảng một năm sau ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P nhận chuyển phần đất liền kề (giáp ranh đất vợ chồng ông T1, bà K) của bà Nguyễn Thị Mỹ T2, bà T2 cũng có xây sẵn 01 căn nhà. Khi bà T2 bán nhà, thì vợ chồng ông T1 cũng có báo cho ông H và bà P biết, giữa hai nhà có một khoảng cách và phần nhà của bà T2 có lấn chiếm không gian qua thửa đất của vợ chồng ông T1 (kèm biên bản giao kết). Gần đây ông H và bà P có xin phép xây dựng thêm nhà, quá trình xây dựng đã lấn chiếm qua phần đất của ông T1 kể cả phần không gian (kèm hình ảnh minh họa). Khi phát hiện xây lấn chiếm vợ chồng ông T1 có báo với chính quyền địa phương và Phòng quản lý đô thị đến kiểm tra nhưng không có lập biên bản, cho đến nay việc xây dựng của ông H, bà P đã hoàn thành.

Vợ chồng ông T1, bà K có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P trả lại phần đất và phần xây dựng lấn chiếm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ H2: Không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên đã xử:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 16, 26, 95, 166, 170 và điểm b khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P đối với ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K.

Buộc ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình, vật kiến trúc tại:

  • + Các điểm 66 - 65 - 5 - 86 - 83, có diện tích đất 5,1m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 4 năm 2023;
  • + Các điểm 80 - 57 - 87, có diện tích đất 0,2m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 4 năm 2023;

Để trả lại cho ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P phần đất lấn chiếm tổng cộng là 5,3m² nêu trên thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT183235, số vào số cấp GCN: CS08379 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 31 tháng 10 năm 2019 cho ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Nhứt T1 và bà Nguyễn Phương K đối với ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P.

Buộc ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất của phần đất diện tích 2,3m²cho ông Trương Nhứt T1 và bà Nguyễn Phương K với số tiền là 138.069.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P được quyền sử dụng đối với phần diện tích 2,3m² tại các điểm 64 - 10 - 42 - 88 (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 4 năm 2023) thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 31 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH137282, số vào sổ H.016571A, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho bà Nguyễn Thị Nam H1, bà Nguyễn Thị Nam T3; những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: chuyển nhượng cho ông Trương Nhứt T1 và bà Nguyễn Phương K, có xác nhận của Văn phòng Đ2 Chi nhánh L1 ngày 15 tháng 3 năm 2019 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 898833029800155, hồ sơ gốc số 001-55 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 21 tháng 12 năm 2006 cho bà Nguyễn Thị Nam H1 và bà Nguyễn Thị Nam T3, những thay đổi sau khi cấp giấy: chuyển nhượng cho ông Trương Nhứt T1 và bà Nguyễn Phương K, có xác nhận của Văn phòng Đ2 Chi nhánh L1 ngày 15 tháng 3 năm 2019.

Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P và ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chỉnh lý biến động tăng quyền sử dụng đối với diện tích đất 2,3m² cho ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P.

4. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P phải chịu chi phí tố tụng là 26.619.000 đồng (hai mươi sáu triệu sáu trăm mười chín nghìn đồng) (đã thực hiện xong).

Ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K phải liên đới chịu chi phí tố tụng là 5.151.080 đồng (năm triệu một trăm năm mươi mốt nghìn không trăm tám mươi đồng) (đã thực hiện xong).

5. Về án phí: Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.903.450 đồng (sáu triệu chín trăm linh ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0000844 ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P còn phải nộp tiếp 6.603.450 đồng (sáu triệu sáu trăm linh ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng).

Ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0001143 ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (đã nộp xong).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án khi án có hiệu lực.

Ngày 07/02/2024, nguyên đơn ông Lê Minh H, Trương Thị Lệ P kháng cáo yêu cầu xem xét không đồng ý hoàn giá trị 138.069.000 đồng, xem xét mỗi bên chịu 50% chi phí tố tụng.

Ngày 05/02/2004, bị đơn Trương Nhứt T1, Nguyễn Phương k kháng cáo yêu cầu xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, yêu cầu kháng cáo; các bên không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và cam kết không cung cấp chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến: Do trước đây nguyên đơn mua đất của bà T2 thì đã có sẵn căn nhà của Mỹ T2 cất từ trước, bà T2 cũng đã thỏa thuận bồi thường 200.000.000đ cho ông T1 phần không gian lấn chiếm, ông T1 đã nhận tiền, nên việc lấn chiếm của nguyên đơn là ngay tình; đập phá, di dời nhà vật kiến trúc diện tích lấn chiếm sẽ gây thiệt hại rất lớn cho nguyên đơn; trong khi phía bị đơn lấn chiếm phần diện tích là bức tường nên việc đập phá di dời sẽ thuận tiện hơn; về chi phí tố tụng do nguyên đơn cũng được chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bị đơn cũng được chấp nhận yêu cầu phản tố thì chia đều cho hai bên mỗi người 50%; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn trình bày: Việc di dời đập phá bức tường của bị đơn sẽ ảnh hưởng lớn đến kết cấu căn nhà của bị đơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo phương án giữ nguyên hiện trạng của 2 bên; các bên sẽ hoàn giá trị đất lấn chiếm cho nhau theo giá đã định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

  • Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ; nhưng buộc bị đơn đập phá di dời trả lại phần đất lấn chiếm là bức tường như cấp sơ thẩm nhận định là chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn; cần giữ y hiện trạng, buộc bị đơn hoàn giá trị đất là phù hợp với pháp luật; đối với chi phí tố tụng do chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chấp nhận yêu cầu phản tố nên nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu 50%. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn; sửa án sơ thẩm theo như ý kiến nêu trên, các phần còn lại giữ y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn nộp đơn kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn thì thấy;

[2] Năm 1996, ông T4 và bà H2 đã chuyển nhượng 245,3m² cho bà Lê Thị Yến C, đến năm 2008, bà C và chồng là ông Nguyễn Tấn Đ1 tiếp tục chuyển nhượng 245,3m² này cho ông Lê Tuấn K1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T2. Vào năm 1996, ông T4 và bà H2 cũng đã chuyển nhượng 238,7m² cho bà Nguyễn Thị Mỹ T2. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà T2 và ông K1 đã xây dựng nhà ở trên đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với các thửa đất 245,3m² (thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 31) và thửa đất 238,7m² (thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31) cùng hai căn nhà gắn liền trên hai thửa đất. Năm 2019, sau khi ông K1 chết, bà T2 nhận thừa kế quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với hai thửa đất và hai căn nhà gắn liền tại thửa số 99 và thửa số 10, tờ bản đồ số 31. Đến ngày 24 tháng 9 năm 2019, thì bà T2 chuyển nhượng quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với hai thửa đất và hai căn nhà gắn liền tại thửa số 99, thửa số 10, tờ bản đồ số 31 cho ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P.

[3] Năm 2006, ông T4 và bà H2 đã tặng cho quyền sử dụng đối với phần đất còn lại diện tích 633m² cho bà Nguyễn Thị Nam H1 và bà Nguyễn Thị Nam T3. Bà H1 và bà T3 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 633m² (thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 31) và căn nhà gắn liền trên đất. Đến ngày 12 tháng 3 năm 2019, thì bà Nam H1 và bà Nam T3 đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 11, tờ bản đồ số 31 này cho ông Trương Nhứt T1 và bà Nguyễn Phương K.

[4] Các đương sự đều thống nhất với hiện trạng thực tế các bên sử dụng như kết quả Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 4 năm 2023 thể hiện.

[4.1] Tại các điểm 66 - 65 - 5 - 86 - 83 (diện tích 5,1m²) và các điểm 80 - 57 - 87 (diện tích 0,2m²) là tường xây của ông T1, bà K nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà P. Ông T1, bà K cho rằng việc họ xây dựng như vậy là do bà Nam H1, bà Nam T3 và bà Mỹ T2 chỉ ranh đất. Nhưng họ cũng thừa nhận việc chỉ ranh do các bên tự thực hiện ngoài thực địa, không có đơn vị chuyên môn kiểm tra để thực hiện theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Ông T1, bà K nhận chuyển nhượng nhà, đất có diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mà bà N, bà Nam T3 đã được cấp.

Tuy nhiên tại phiên tòa phúc, bị đơn cho rằng ngoài bức tường gắn liền với vật kiến trúc liền khối có xây dựng mái tol, cột sắt; nếu di dời sẽ ảnh hưởng đến công năng sử dụng nên bị đơn giữ nguyên hiện trạng và đồng ý hoàn giá trị phần lấn chiếm 5,3m² theo giá trị đất mà nguyên đơn đã bồi hoàn giá trị đất cho bị đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng để bảm đảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự công bằng, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà P về việc buộc ông T1, bà K phải hoàn giá trị quyền sử dụng đất có diện tích 5,3m² cho nguyên đơn ông H, bà P. Bị đơn ông T1, bà K được tiếp tục quản lý sử dụng phần diện tích đã lấn chiếm 5,3m²; ông T1, bà K có nghĩa vụ hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn ông H, bà P với số tiền: Diện tích đất 5,3m² x 60.030.000đ/m² = 318.000.000đ; (giá trị đất được xác định theo Chứng thư thẩm định giá ngày 05 tháng 11 năm 2022 của Công ty cổ phần T5)

[4.2] Tại các điểm 64 - 10 - 42 - 88 (diện tích 2,3m²) là phần căn nhà của ông H, bà P nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1, bà K. Về phía ông H, bà P cho rằng do trước khi chuyển nhượng cho ông H, bà P, thì bà T2 đã mua lại phần đất này với giá 200.000.000 đồng từ ông T1, bà K theo Biên bản giao kết ngày 08 tháng 5 năm 2019. Hiện trạng căn nhà được bà T2 xây dựng từ trước, vợ chồng ông H chỉ sửa chữa, gia cố lại. Tuy nhiên, xét thấy tại nội dung Biên bản giao kết ngày 08 tháng 5 năm 2019 chỉ thể hiện: 200.000.000 đồng là tiền đền bù do bà T2 xây cất lấn qua không gian bên nhà ông T1; phù hợp với hình ảnh do bị đơn cung cấp thể hiện: Căn nhà cũ của bà T2 có kết cấu: tầng trệt, tầng lầu 1 là căn nhà có kết cấu nền gạch men, cột bê tông cốt thép, vách gạch nằm trên không gian của phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1, bà K. Hiện trạng nhà của ông H, bà P hiện nay đã được xây dựng kiên cố, tầng trệt của căn nhà tại vị trí đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1, bà K không còn là đất trống mà là các cột, bờ tường kết cấu nhà hoàn thiện, được xây dựng kiên cố tạo thành thể thống nhất với tầng lầu 1 và kết cấu còn lại của toàn bộ căn nhà, trở thành một khối chắc chắn theo Giấy phép xây dựng số 887/GPXD ngày 24 tháng 5 năm 2021. Việc yêu cầu ông H, bà P thực hiện phá dỡ nhà trả đất sẽ gây ảnh hưởng lớn đến kết cấu tài sản.

Vì vậy, cần thiết ổn định cho ông H, bà P được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất 2,3m² tại các điểm 64 - 10 - 42 - 88. Buộc ông H, bà P phải hoàn trả lại giá trị của phần diện tích đất lấn chiếm, cụ thể: 60.030.000 đồng/m² x 2,3m² = 138.069.000 đồng (Giá trị đất được xác định theo Chứng thư thẩm định giá ngày 05 tháng 11 năm 2022 của Công ty cổ phần T5 lập).

[5] Đối với số tiền 200.000.000 đồng đã chi trả để sử dụng không gian lấn chiếm, nhưng hiện nay không còn sử dụng, nếu bà Nguyễn Thị Mỹ T2 có tranh chấp thì có quyền khởi kiện để được giải quyết trong vụ án khác.

[6] Về chi phí tố tụng: Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, thực hiện thủ tục đăng báo đài với chi phí tố tụng do ông H, bà P đã tạm ứng chi trả là 26.619.000 đồng và chi phí tố tụng do bà K, ông T1 đã tạm ứng chi trả là 5.151.080 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn và bị đơn phải chịu mỗi bên là 50% chi phí tố tụng. Do nguyên đơn đã tạm ứng trước, cần buộc bị đơn ông T1, bà K phải hoàn lại cho nguyên đơn ông H, bà P số tiền chênh lệch 10.733.960đ.

Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn và quan điểm phát biểu của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực pháp luật.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P, Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 2 điều 148; điều 296 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Lê Minh H, Trương Thị Lệ P và bị đơn Trương Nhứt T1, Nguyễn Phương K.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DSST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P đối với ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K.

Buộc ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K có nghĩa vụ hoàn giá trị quyền sử dụng đất của phần đất diện tích 5,3m² cho Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P với số tiền 318.000.000đ (ba trăm mười tám triệu đồng)

Ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K được tiếp tục sử dụng phần diện tích 5,3m²; gồm các điểm 66 - 65 - 5 - 86 - 83, có diện tích đất 5,1m² và các điểm 80 - 57 - 87, có diện tích đất 0,2m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 4 năm 2023.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K đối với ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P.

Buộc ông Lê Minh H và bà Trương Thị Lệ P có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất của phần đất diện tích 2,3m² cho ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K với số tiền là 138.069.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P được tiếp tục sử dụng phần diện tích 2,3m² tại các điểm 64 - 10 - 42 – 88 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 4 năm 2023.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P và ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chỉnh lý biến động tăng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 2,3m² cho ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P và diện tích đất 5,3m² cho ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K.

(Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 18/4/2023 của Văn phòng Đ2 chi nhánh L1 là một phần không tách rời bản án).

4. Về chi phí tố tụng: Bị đơn T1, bà K phải hoàn lại cho nguyên đơn ông H, bà P số tiền 10.733.960đ.

5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P phải chịu 6.903.450₫ (sáu triệu chín trăm linh ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng) tiền án phí, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0000844 ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Lê Minh H, bà Trương Thị Lệ P còn phải nộp tiếp 6.603.450đ (sáu triệu sáu trăm linh ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng).

Ông Trương Nhứt T1, bà Nguyễn Phương K phải chịu 15.900.000đ (mười lăm triệu chín trăm nghìn đồng) tiền án phí, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0001143 ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông T1, bà K còn phải nộp tiếp 15.600.000đ (mười lăm triệu sáu trăm nghìn đồng)

6. Án phí dân sự phúc thẩm: Lê Minh H, Trương Thị Lệ P, Trương Nhứt T1 và Nguyễn Phương K không phải chịu; hoàn lại cho ông H, bà P 600.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai tạm ứng án phí số 0001584 ngày 23/02/2024 và ông T1, K 600.000₫ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001539 ngày 05/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (1)
  • - VKSND.AG (1)
  • - TAND huyện (1)
  • - THA huyện (1).
  • - Toà Dân sự (2)
  • - Văn phòng.(1)
  • - Phòng KTNV & THA (1)
  • - Đương sự “ Để thi hành”
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/DSPT ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp “quyền sử dụng đất”

  • Số bản án: 161/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp “Quyền sử dụng đất”
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông H, bà P kiện ông T, bà K tranh chấp quyền sử dụng đất do cất nhà lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger