Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 161/2025/HS-ST

Ngày 27 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Xuân Tuất;

Ông Nguyễn Đình Quang;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 126/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 13/TB-TA ngày 26/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/HSST-QĐ ngày 29/5/2025, đối với:

- Các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1966 tại Đồng Nai; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 19/01/2022; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ (đã chết) và 06 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến 19/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Đình V, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1980 tại Đồng Nai; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/8/2021; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ mộc; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình N và bà Nguyễn Thị Tuyết H1; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến 19/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà;
  3. Hoàng Văn V1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988 tại Nghệ An; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/11/2022; nơi cư trú: tổ C, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: xây dựng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B và bà Ngô Thị N1; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến 19/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà;
  4. Phạm Văn S, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1980 tại Hải Dương; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/02/2022; nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: xây dựng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B1 và bà Nguyễn Thị M; Bị cáo có vợ và chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến 19/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà;
  5. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1973 tại Đồng Nai; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 29/4/2021; nơi cư trú: ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: xây dựng; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ và 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến 19/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 13/12/2024, Phạm Văn S, Hoàng Văn V1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đình V đến nhà Nguyễn Văn H tại ấp Q, xã Q, huyện T chơi. Sau đó S, V1, T1, V nảy sinh ý định đánh bài ăn tiền và thỏa thuận với H cho các bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh bài “phỏm” thắng thua bằng tiền tại bàn ghế đá trong sân nhà H và cho H thu tiền xâu, quá trình đánh bạc nếu ai “ù” sẽ thu tiền xâu 50.000 đồng cho H thì H đồng ý. Sau đó S đi ra quán tạp hóa mua 01 bộ bài tây rồi cùng T1, V và V1 đánh bạc tại bàn ghế đá trong sân nhà H.

Hình thức chơi bạc như sau: Các con bạc sử dụng bộ bài tây 52 lá, người chia bài sử dụng bộ bài tây chia đều cho 4 người chơi, mỗi người chơi 09 lá bài, người chia bài chia thêm 01 lá, phần bài dư để ở giữa những người chơi, người chia bài là người đánh trước và đánh 01 lá bài qua người bên cạnh, nếu người tiếp theo có thể ghép bài mình với lá bài này tạo thành phỏm thì sẽ kéo lá bài đó về phía mình để tạo thành “phỏm”, nếu không bốc 01 lá bài ở giữa và tiếp tục đánh xoay vòng cho người bên cạnh đến khi hết bài ở giữa thì những người chơi sẽ ngửa bài so điểm với nhau, người nào ít điểm nhất thắng ván bài đó. Trong quá trình chơi người nào có 03 phỏm thì được gọi là “ù”. “phỏm” được quy ước là 3 lá bài liền kề đồng chất (ví dụ như 3,4,5 bích) hoặc 3 là bài giống nhau (ví dụ như 03 lá bài 6). Các con bạc quy ước số tiền thắng thua như sau: Người tới nhất thắng ba người còn lại lần lượt số tiền 50.000 đồng, 100.000 đồng và 150.000 đồng, người nào “ù” thì thắng ba người còn lại mỗi người 250.000 đồng, nếu người nào không có “phỏm” thì gọi là “cháy” và sẽ thua người tới nhất số tiền 200.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn H là người thu tiền xâu, khi bị bắt H chưa thu được tiền xâu và không bị tạm giữ gì. Nguyễn Văn T1 mang theo và sử dụng số tiền 3.300.000 đồng để đánh bạc. Nguyễn Đình V mang theo và sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc. Hoàng Văn V1 mang theo và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Phạm Văn S mang theo và sử dụng số tiền 3.700.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 10.000.000 đồng.

2. Vật chứng của vụ án:

  • - Số tiền 7.500.000 đồng trên chiếu bạc và 2.500.000 đồng trong người các con bạc; Tổng cộng là 10.000.000 đồng;
  • - 01 bộ bài tây 52 lá bài (đang sử dụng), 04 điện thoại di dộng các loại gồm: 02 điện thoại di động nhãn hiệu oppo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc; 02 xe mô tô biển số 34B3 – 80423, 37P1 – 46099.

3. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

3.1 Truy tố:

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKS-TB ngày 19 tháng 3 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn V1, Phạm Văn S, Nguyễn Đình V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.2 Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:

3.2.1. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn V1, Phạm Văn S, Nguyễn Đình V phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn S mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Đình V, Hoàng Văn V1 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

3.2.2. Về xử lý vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.500.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 2.500.000 đồng trên người các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc;
  • - Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá bài;
  • - Đối với 01 xe mô tô gắn biển số 34B3 – 80423, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Phạm Văn S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo của Phạm Văn S; 01 xe mô tô gắn biển số 37P1 – 46099, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Hoàng Văn V1, và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của Hoàng Văn V1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc của Nguyễn Đình V không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp;

3.2.3. Về án phí:

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở để xác định, 09 giờ 30 ngày 13/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi cung cấp địa điểm tại nhà của mình thuộc ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai để cho Phạm Văn S, Hoàng Văn V1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đình V đánh bạc bằng hình thức “phỏm” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh như đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.3. Về hình phạt:

Đánh bạc là một tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại toại phạm khác; Các bị cáo là người có đủ năng lực, hành vi chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức biết rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa tội phạm tương tự trong xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân tốt, đã thật sự ăn năn hối cải, ngoài lần phạm tội này đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là đủ để giáo dục và phòng ngừa chung; do đó áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);

Theo biên lai thu tiền số 0003722 ngày 28/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá bài;

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

- Đối với 01 xe mô tô gắn biển số 34B3 – 80423, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Phạm Văn S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo của Phạm Văn S; 01 xe mô tô gắn biển số 37P1 – 46099, giấy chứng nhận đăng ký xe tên Hoàng Văn V1, và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của Hoàng Văn V1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc của Nguyễn Đình V không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp;

[5] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với các nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 35, Điều Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn V1, Phạm Văn S, Nguyễn Đình V phạm tội “Đánh bạc

  • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V1 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình V 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);;
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);

Theo biên lai thu tiền số 0003722 ngày 28/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá bài;

Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/5/2025.

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn V1, Phạm Văn S, Nguyễn Đình V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - UBND cấp xã và Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thùy Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 161/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger