|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 161/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
- Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 510/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 252/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh X, sinh năm 1982.
Địa chỉ: 21B/79, khu phố 12, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Đặng H, sinh năm 1982.
Thường trú: 26B/88, khu phố 13, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Hiện cư trú tại: 521/79/5, tổ 93C, khu phố 13, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà X có đơn xin vắng mặt; ông Hải vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ - Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh X trình bày:
Tôi và ông Đặng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2004, tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều. Tôi nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đặng H.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Đặng A, sinh ngày 16/4/2005 và Đặng A, sinh ngày 30/8/2013. Khi ly hôn, tôi xin được nuôi cháu A, tạm thời không yêu cầu ông Hải phải cấp dưỡng. Cháu A đã đủ 18 tuổi và trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Đặng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:
Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chấp hành không đúng. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.
Về giải quyết tranh chấp:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Lê Thị Thanh X được ly hôn với ông Đặng H.
- Về con chung: Có 02 con chung là Đặng A, sinh ngày 16/4/2005 và Đặng A, sinh ngày 30/8/2013. Khi ly hôn, giao cho bà X được nuôi cháu A, tạm thời ông Hải không phải cấp dưỡng do bà X không yêu cầu. Cháu A đã đủ 18 tuổi và trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà X khai, bà và ông Hải tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Hải về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Lê Thị Thanh X phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Lê Thị Thanh X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đặng H; Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà X là nguyên đơn, ông Hải là bị đơn trong vụ án.
Theo Biên bản xác minh ngày 09/4/2025 tại Công an phường H thì có căn cứ để xác định: Hiện nay, ông Đặng H đang cư trú tại địa chỉ: 521/79/5, tổ 93C, khu phố 13, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 14/5/2025, bà Lê Thị Thanh X có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố B cũng đã tống đạt hợp lệ. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Đặng H để tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông Hải vắng mặt không có lý do. Vì vậy, theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh X và ông Đặng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2004, tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 9, 11 và 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Bà X và ông Hải chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều, đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thể, đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể kéo dài. Xét yêu cầu ly hôn của bà X là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo biên bản xác minh ngày 27/03/2025 tại Ủy ban nhân dân phường H thể hiện về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà X và ông Hải thì địa phương không rõ do các đương sự không trình báo. Tuy nhiên, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Hải để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Hải đều vắng mặt không lý do, không có động thái tích cực để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm giữa bà X và ông Hải là có thật, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà X được ly hôn với ông Hải.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà X và ông Hải có 02 con chung là Đặng A, sinh ngày 16/4/2005 và Đặng A, sinh ngày 30/8/2013. Khi ly hôn, bà X xin được nuôi cháu Đặng A, tạm thời không yêu cầu ông Hải phải cấp dưỡng. Hiện nay, cháu A đang sinh sống cùng bà X, cháu A cũng có ý kiến xin được ở với mẹ. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Hải thể hiện yêu cầu này của bà X nhưng ông Hải không có ý kiến phản đối. Do đó, để ổn định về việc học tập và sinh hoạt, cũng như sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho cháu A, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà X, giao cháu A cho bà X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông Hải không phải cấp dưỡng nuôi con do bà X không yêu cầu. Cháu A đã đủ 18 tuổi và trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Hải được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà X khai, bà và ông Hải tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Hải về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
[5] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Thanh X phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 9, 11 và 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh X: Bà Lê Thị Thanh X được ly hôn với ông Đặng H.
Về con chung: Khi ly hôn, giao cho bà X được nuôi cháu A, tạm thời ông Hải không phải cấp dưỡng do bà X không yêu cầu. Cháu A đã đủ 18 tuổi và trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Ông H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà X khai, bà và ông Hải tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Hải về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Thanh X phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006163 ngày 14/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà Lê Thị Thanh X đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Bà Lê Thị Thanh X và ông Đặng H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Phương |
Bản án số 161/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 161/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà X và ông H ly hôn
