|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 161/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
Ông Ngô Văn Bê
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐ-ST ngày 16/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn N, sinh ngày 10/10/1987 (vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Dương Thị T, sinh ngày 02/9/1991 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chứng minh nhân dân: [...]
Anh N ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lục Văn D, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ). Chứng minh nhân dân: 1211972952.
Địa chỉ cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Bảo Lộc 2, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
- Ông Dương Văn K, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Bà Ngô Thị K1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị T được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T về nhà anh làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2019 anh chị đi lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan vợ chồng vẫn hòa thuân nhưng đến tháng 5/2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 5/2021 đến nay anh và chị T không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh về nước sinh sống, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Dương Thị T. Trong những lần chị T về thăm gia đình không về chung sống cùng gia đình anh mà về chung sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Phạm Đức Q, sinh ngày 28/9/2009 và cháu Phạm Đức V, sinh ngày 07/10/2014. Hiện nay cháu Q đang sinh sống cùng anh, cháu V đang sinh sống cùng chị T và ông K, bà K1. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao cháu Q cho anh là người trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu V cho chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu V cho ông K, bà K1 nuôi dưỡng cho đến khi chị T về nước sinh sống.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết
Ngoài ra anh N trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Anh N ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lục Văn D, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chị Dương Thị T là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 11/4/2025 và 21/4/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Dương Văn K, bà Ngô Thị K1 (là bố mẹ chị Dương Thị T) trình bày:
Về hôn nhân: Anh N, chị T được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T về nhà anh N làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2019 anh N, chị T cùng đi lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng được một thời gian thì thấy anh, chị nói vợ chồng có mâu thuẫn nên sống ly thân nhau. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo nhưng không được.
Về con chung: Anh N, chị T có 02 con chung là cháu Phạm Đức Q, sinh ngày 28/9/2009 và cháu Phạm Đức V, sinh ngày 07/10/2014. Hiện nay cháu Q đang sinh sống cùng anh N, cháu V đang sinh sống cùng ông, bà. Ông, bà đề nghị Tòa án giao cháu V cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông, bà đồng ý nuôi dưỡng, chăm sóc cháu V cho chị T cho đến khi chị T về nước sinh sống. Ông, bà xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V vừa là quyền cũng như nghĩa vụ của ông, bà đối với con cháu nên không yêu cầu anh N, chị T phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V từ trước cho đến nay và trong thời gian tới đây.
Ngoài ra ông, bà cung cấp: Trước khi đi lao động tại Đài Loan chị T sinh sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan chị T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Trong những lần về thăm gia đình chị T sinh sống cùng ông bà tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Gia đình đã thông báo cho chị T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh N và chị T, chị T có trao đổi cho ông, bà biết: chị đồng ý ly hôn với anh N, chị đề nghị giao cháu V cho chị nuôi dưỡng nhưng chị không cung cấp cho Tòa được địa chỉ nơi ở, làm việc và ý kiến bằng văn bản. Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do bận công việc nên ông, bà đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Cháu Phạm Đức Q trình bày: cháu hiện đang sinh sống cùng bố, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng bố.
Cháu Phạm Đức V trình bày: cháu hiện đang sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Phạm Văn N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn K, bà Ngô Thị K1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Dương Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh N; Biên bản lấy lời khai của ông K, bà K1, các con chung của anh N, chị T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông K, bà K1 có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chị T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh N, chị T, ông K, bà K1 là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn N; xử:
Về hôn nhân: anh Phạm Văn N được ly hôn chị Dương Thị T.
Về con chung: Giao cháu Phạm Đức Q cho anh N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Đức V cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu V cho ông K, bà K1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị T về nước sinh sống.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh N, ông K, bà K1 không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Do anh N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Anh Phạm Văn N khởi kiện xin ly hôn chị Dương Thị T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 8916/QLXNC-P3 ngày 22/4/2025 của Cục Q1 - Bộ C cung cấp, chị Dương Thị T, đã xuất cảnh ngày 22/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh Việt Nam. Do đó, chị T được xác định đang ở nước ngoài. Mặt khác, chị T là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt đương sự:
Đối với nguyên đơn anh Phạm Văn N và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Dương Văn K, bà Ngô Thị K1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N, ông K, bà K1.
Đối với bị đơn chị Dương Thị T: Căn cứ lời khai của nguyên đơn anh N và ông Dương Văn K, bà Ngô Thị K1 (bố mẹ chị T) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của chị T ở Việt Nam là: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị T thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho chị T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Phạm Văn N và chị Dương Thị T. Gia đình chị T cung cấp chị T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị T không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị T tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Về hôn nhân: Anh Phạm Văn N và chị Dương Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống anh N, chị T phát sinh mâu thuẫn, anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Dương Thị T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh N với chị T, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh N và chị T chung sống hòa thuận. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2019 anh N, chị T cùng đi lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan vợ chồng vẫn hòa thuận, theo trình bầy của anh N từ tháng 5/2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống của người đó, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó. Ngoài ra theo cung cấp của ông K, bà K1 thì ông bà cũng biết được chị T và anh N có mâu thuẫn và được gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị T, anh N không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N với chị T xử cho anh Phạm Văn N được ly hôn chị Dương Thị T là có căn cứ và phù hợp với đề nghị của đại diện Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Anh N và chị T có 02 con chung là cháu Phạm Đức Q, sinh ngày 28/9/2009 và cháu Phạm Đức V, sinh ngày 07/10/2014. Hiện nay cháu Q đang sinh sống cùng anh N, cháu V đang sinh sống cùng ông K, bà K1 (là bố, mẹ đẻ chị T). Sau ly hôn anh N đề nghị giao cháu Q cho anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu V cho chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu V cho ông K, bà K1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị T về nước sinh sống. Ông K, bà K1 đồng ý nuôi cháu V trong thời gian chị T ở nước ngoài. Cháu Q có nguyện vọng được ở cùng bố, cháu V có nguyện vọng được ở cùng mẹ và ông, bà ngoại.
Xét yêu cầu giao con chung của anh Phạm Văn N sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử thấy: Chị T hiện đang ở nước ngoài, từ khi chị T đi nước ngoài cháu Q sinh sống cùng anh N, hiện tại đang sống ổn định cùng anh N. Mặt khác, cháu Q trên 07 tuổi có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Đối với cháu V, hiện nay cháu V đang sinh sống cùng ông K, bà K1, cháu V phát triển ổn định về cả vật chất lẫn tinh thần. Ông K, bà K1 đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V cho chị T cho đến khi chị T về nước sinh sống. Cháu V trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ và ông, bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh N giao cháu Phạm Đức Q, sinh ngày 28/9/2009 cho anh N nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Đức V, sinh ngày 07/10/2014 cho chị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q, cháu V đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Nhưng tạm giao cháu V cho ông Dương Văn K, bà Ngô Thị K1 nuôi dưỡng cho đến khi chị T về nước sinh sống như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
Sau khi ly hôn anh Phạm Văn N, chị Dương Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh N, chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Trường hợp anh Phạm Văn N, chị Dương Thị T có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh N, ông K, bà K1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh N, ông K, bà K1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở Việt Nam, có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Dương Thị T đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn N.
- Về hôn nhân: Anh Phạm Văn N được ly hôn chị Dương Thị T.
- Về con chung:
- Về án phí: Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000496 ngày 08/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Phạm Văn N đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Giao cháu Phạm Đức Q, sinh ngày 28/9/2009 cho anh Phạm Văn N là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Giao cháu Phạm Đức V, sinh ngày 07/10/2014 cho chị Dương Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Phạm Đức V cho ông Dương Văn K, bà Ngô Thị Kim chăm S, nuôi dưỡng cho đến khi chị T về nước sinh sống.
Sau khi ly hôn anh Phạm Văn N, chị Dương Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Anh Phạm Văn N, ông Dương Văn K, bà Ngô Thị K1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Dương Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 161/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 161/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh N và chị T
