|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 161/2025/DS-ST Ngày: 26/6/2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Mỹ Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông (bà) Nguyễn Thị Ngọc Thu
2. Ông (bà) Lý Thị Kim Hân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 468/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 373/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P1 (O)
Trụ sở: số 41 (tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Tòa nhà) và số D L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh
Nay trụ sở chính: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Trần Đông A - Chức vụ: Giám đốc Phòng G – Chi nhánh C - Ngân hàng TMCP P1
Người được ủy quyền:
- Ông Trịnh Đức Quốc T1, sinh năm: 1975
- Ông Nguyễn Vĩnh Q, sinh năm: 1989
- Ông Liêu Thái H, sinh năm: 1979
(Giấy ủy quyền số: 01/2025/UQ-OCB ngày 20/02/2025)
ĐCLL: Tầng 1 và 2 Tòa nhà Hòa Bình B, Số A, đường H, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
- Ông Ngô Thanh P, sinh năm: 1988. Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Thúy A1, sinh năm: 1991. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Số C đường số B, Tổ C, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
ĐCLL: Căn hộ số 29.26 Tòa nhà chung cư S (Dự án khu dân cư và công viên P) số 88 đường P, KP.13, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm: 1993. Vắng mặt
Địa chỉ: C KDC H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/02/2023 và quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 (O) với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại OCB chi tiết như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 0090/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 25/10/2022 và Khế ước nhận nợ số 0090/2022/KUNN-OCB-CN ngày 30/11/2022, 0090.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 30/11/2022, 0090.02/2022/KUNN-OCB-CN ngày 01/12/2022, 0090.03/2022/KUNN-OCB-CN ngày 02/12/2022, 0090.04/2022/KUNN-OCB-CN ngày 05/12/2022: Số tiền vay: 10.740.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ bảy trăm bốn mươi triệu đồng), Mục đích vay: Vay mua bất động sản; Thời hạn vay: 300 tháng; Lãi suất vay: Trong 03 tháng đầu tiên, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 18%/năm. Từ tháng thứ 4 trở đi, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (sau đây gọi là kỳ điều chỉnh lãi suất). Theo công thức tính lãi như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất tham chiếu (1) + Biên độ tối thiểu (2). Trong đó: Lãi suất tham chiếu (1): là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được Tổng Giám Đốc ban hành từng thời kỳ; Biên độ tối thiểu (2): tối thiểu 4,4%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P;
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/02/2023 giữa OCB với bà Nguyễn Thị Thúy A1.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm:
- Tài sản bảo đảm 01: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, địa chỉ Hẻm A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 221423, số vào sổ cấp GCN: CS08549 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 06/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/10/2022. Tài sản bảo đảm trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0090A/2022/BĐ ngày 25/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 tại Văn phòng C1, Thành phố Cần Thơ, số công chứng 10578, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
- Tài sản bảo đảm 02: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 282, tờ bản đồ số 57, địa chỉ: hẻm A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 350954, số vào sổ cấp GCN: CH 05883 do UBND quận N, Thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/10/2015, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/10/2022. Tài sản bảo đảm trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0090B/2022/BĐ ngày 25/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 tại Văn phòng C1, Thành phố Cần Thơ, số công chứng 10577, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng, các Hợp đồng mở thẻ tín dụng và các Khế ước nhận nợ nêu trên đã được ký kết giữa OCB với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1.
Tổng nghĩa vụ nợ của ông Ngô Thanh P, bà Nguyễn Thị Thúy A1 theo Hợp đồng tín dụng số 0090/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 25/10/2022; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/02/2023 giữa OCB với bà Nguyễn Thị Thúy A1 tạm tính đến ngày 28/02/2023 là 14.199.895.079 đồng, trong đó: Nợ gốc: 10.986.735.264 đồng; Nợ lãi: 1.746.986.905 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ, và các cam kết đã ký kết với OCB.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tại phiên tòa xét xử hôm nay Ngân hàng TMCP P1 đề nghị giải quyết các vấn đề sau đây:
Buộc ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0090/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 25/10/2022, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/02/2023 giữa OCB với bà Nguyễn Thị Thúy A1 tạm tính đến ngày 26/6/2025 là 15.151.277.397 đồng (bao gồm: Nợ gốc 10.984.936.264 đồng, nợ lãi 4.166.341.133 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 26/6/2025 cho đến khi ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay khi Q1 định/ Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Nếu ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0090A/2022/BĐ ngày 25/10/2022, số 0090B/2022/BĐ ngày 25/10/2022 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P2 theo quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1, người liên quan bà Nguyễn Thị Thu S vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiền hành hòa giải được. Sau khi tiến hành các thủ tục tống đạt trực tiếp, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Tòa án ra quyết định xét xử công khai. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1, người liên quan bà Nguyễn Thị Thu S tiếp tục vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 nên Hội đồng xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, Điều 196 về trình tự thụ lý, hình thức, nội dung thông báo thụ lý vụ án. Thẩm phán thực hiện đúng quy định từ Điều 93 đến Điều 98 về chứng cứ, xác định chứng cứ, giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án; Thẩm phán thực hiện đúng từ Điều 208 đến Điều 211 quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án được Tòa án thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự đối với bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự
- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa phía nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phí thẻ của phần nợ thẻ tín dụng là 147.277.890 đồng nên đề nghị đình chỉ yêu cầu trên. Đồng thời, các yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 khởi kiện bị đơn ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 yêu cầu các bị đơn trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ phía ông Ngô Thanh P, bà Nguyễn Thị Thúy A1 cung cấp cho Ngân hàng địa chỉ thường trú của ông bà tại số C, đường số B, tổ C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ Theo kết quả xác minh Công an phường A thì ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 có đăng ký thường trú tại số C, đường số B, tổ C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ nhưng ông bà đã bỏ địa phương, đi đâu và làm gì địa phương không rõ. Theo kiểm tra thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia thì bà Nguyễn Thị Thúy A1 có căn ký tạm trú tại căn hộ B tòa nhà chung cư S (Dự án khu dân cư và công viên P) số 88 đường P, KP.13, phường L, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, các bị đơn Ngô Thanh P và Nguyễn Thị Thúy A1 không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục địch che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện nên căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Các bị đơn có địa chỉ thường trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự có tên nêu trên.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về khoản nợ vay, thấy rằng:
Ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 đã ký với với Ngân hàng TMCP P1 các Hợp đồng tín dụng bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 0090/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 25/10/2022 và Khế ước nhận nợ số 0090/2022/KUNN-OCB-CN ngày 30/11/2022, 0090.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 30/11/2022, 0090.02/2022/KUNN-OCB-CN ngày 01/12/2022, 0090.03/2022/KUNN-OCB-CN ngày 02/12/2022, 0090.04/2022/KUNN-OCB-CN ngày 05/12/2022. Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy hợp đồng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên đều phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận tại hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và điểm a,b,c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N quy định về lãi suất cho vay như sau: “Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”
Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc và lãi là có cơ sở. Ngân hàng đã tính lãi với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Bảng tính gốc, lãi do Ngân hàng cung cấp đã tính đúng số ngày, mức lãi suất áp dụng trong hợp đồng tín dụng ký kết. Vì vậy, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi trên Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 25/6/2025 là 14.111.271.368 đồng ( số tiền nợ gốc: 10.596.686.783 đồng, lãi: 3.514.584.585 đồng). Bị đơn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi cho đến khi trả tất nợ theo lãi suất được ghi trên Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn là phù hợp.
[3.2] Đối với yêu cầu về Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 27/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 21/02/2023 giữa OCB với bà Nguyễn Thị Thúy A1.
Quá trình giải quyết vụ án đại diện Ngân hàng khẳng định việc cấp tín dụng phù hợp theo quy định pháp luật giữa Ngân hàng TMCP P1 với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng và bị đơn có thỏa thuận về lãi suất, cách tính lãi, thời hạn thanh toán, phường thức thanh toán,... Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ phí thẻ là 147.277.890 đồng nên ghi nhận. Do đó, các bị đơn có nghĩa vụ trả nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng số tiền 892.728.139 đồng (nợ gốc: 388.249.481 đồng; nợ lãi: 504.478.658 đồng).
[3.3] Về việc yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:
Giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký các hợp đồng thế chấp tài sản bao gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, địa chỉ Hẻm A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 221423, số vào sổ cấp GCN: CS08549 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 06/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/10/2022. Tài sản bảo đảm trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0090A/2022/BĐ ngày 25/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 tại Văn phòng C1, Thành phố Cần Thơ, số công chứng 10578, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 282, tờ bản đồ số 57, địa chỉ: hẻm A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 350954, số vào sổ cấp GCN: CH 05883 do UBND quận N, Thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/10/2015, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/10/2022. Tài sản bảo đảm trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0090B/2022/BĐ ngày 25/10/2022 giữa OCB với ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 tại Văn phòng C1, Thành phố Cần Thơ, số công chứng 10577, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
Qua kiểm tra thực trạng theo tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2025, phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thúy A1 đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy các Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông P, bà A1 được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 298, Điều 317, Điều 318 và Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015. Các bên tự nguyện thực hiện giao kết hợp đồng, tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên giao kết có năng lực hành vi dân sự theo quy định, mục đích hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý các tài sản đảm bảo của khoản vay theo Hợp đồng thế chấp đã ký.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu S đang sử dụng tài sản trên đất Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết theo một vụ kiện khác.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu chi phí số tiền: 12.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí số tiền 12.000.000 đồng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bị đơn có trách nhiệm thanh toán lại cho nguyên đơn.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 298, Điều 229, Điều 301, Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 (O) về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Ngô Thanh P, bà Nguyễn Thị Thúy A1.
Buộc các bị đơn Ngô Thanh P và Nguyễn Thị Thúy A1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P1 tổng số tiền nợ tính đến ngày 25/6/2025 là: 15.003.999.507 đồng (số tiền nợ gốc: 10.984.936.264 đồng, lãi: 4.019.063.243 đồng) và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết tính từ ngày tiếp theo 26/6/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 (O) với bị đơn ông Ngô Thanh P và Nguyễn Thị Thúy A1 đối với nợ phí thẻ số tiền là 147.277.890 đồng.
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật các bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng TMCP P1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay theo các hợp đồng thế chấp đã ký bao gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, địa chỉ: hẻm A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 221423, số vào sổ cấp GCN: CS08549 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 06/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/10/2022.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 282, tờ bản đồ số 57, địa chỉ: hẻm A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 350954, số vào sổ cấp GCN: CH 05883 do UBDN quận N, Thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/10/2015, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/10/2022.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Ngô Thanh P, bà Nguyễn Thị Thúy A1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 123.151.000 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 61.000.000 đồng (bằng chữ: sáu mươi mốt triệu đồng) theo biên lai thu số 0001216 ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
3. Về chi phí xem xét thẩm định: Bị đơn ông Ngô Thanh P, bà Nguyễn Thị Thúy A1 phải chịu chi phí thẩm định số tiền 12.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp xong bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền này khi án có hiệu lực.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nói trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Mỹ Xuân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Hồ Mỹ Xuân
10
Bản án số 161/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 161/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA 161 về TCHĐTD OCB - Phương An
