|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 161/2025/DS-PT Ngày: 25/02/2025 V/v Tranh chấp đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hiền
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Hồng Nam
Bà Phạm Thị Kim
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Nguyễn Phương Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đồng Văn Nam – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19/02/2025, ngày 25/02/2025 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm đã thụ lý số 494/2024/TLPT-DS ngày 14/6/2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 681/2020/DS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng nghị giám đốc thẩm bằng Quyết định giám đốc thẩm số 49/2024/DS-GĐT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 133/2025/QĐPT-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T – sinh năm 1955 (có mặt)
- Địa chỉ: Số A Tổ A, khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Ông Trần Ngọc H – sinh năm 1962
- Địa chỉ: Số C H, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn N – sinh năm 1978 (có mặt)
- Theo Giấy ủy quyền số 003451 ngày 20/8/2024 tại Văn phòng C1.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thu Đ – sinh năm 1959
- Địa chỉ: Số A Tổ A, khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn T – sinh năm 1955 (có mặt)
- Theo Giấy ủy quyền số 5622 ngày 22/11/2017 tại Văn phòng công chứng Nhà Rồng Thành phố H.
- Bà Nguyễn Thị Thu T1 – sinh năm 1962
- Địa chỉ: Số A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Liễu O – sinh năm 1968 (có mặt)
- Theo Giấy ủy quyền số 003452 ngày 20/8/2024 tại Văn phòng C1.
Do có kháng nghị của: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKNPT-VKS-DS ngày 01/6/2018 (Ngày 31/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 01/QĐ-VKS-DS rút toàn bộ quyết định kháng nghị trên).
Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Trần Ngọc H, Đơn kháng cáo đề ngày 06/6/2018, nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T trình bày:
Do có quan hệ bạn bè thân thiết với ông Trần Ngọc H, nên giữa ông T và ông H có thỏa thuận với nhau bằng miệng về việc góp vốn mua đất, sau đó bán lại kiếm lời chia nhau.
Ngày 01/8/2001, ông T đã giao trực tiếp cho ông H tổng cộng 100 lượng vàng 24K loại 9999 và số tiền 50.000.000 đồng, ông H có tự viết và ký nhận số vàng này vào trong sổ tay của ông T.
Ngày 16/8/2001, ông T tiếp tục giao thêm cho ông H 500.000.000 đồng, ông H cũng đã tự viết và ký nhận vào trong sổ tay của ông T.
Sau khi nhận vàng và tiền, ông H sử dụng để mua nhiều phần đất. Sau khi mua đất, ông H đã tự ý bán lại cho người khác để lấy tiền mà không hề trao đổi hay thảo luận gì với ông T. Mặc dù, ông T đã nhiều lần gọi điện thoại nhắc nhở ông H nhưng ông H vẫn không chịu thanh quyết toán với ông T những số tiền, vàng nêu trên.
Ngày 01/12/2007, ông H có đến nhà ông T và giao cho vợ ông T là bà Nguyễn Thị Thu Đ số tiền 1.800.000.000 đồng. Từ sau ngày này, ông T liên tục gọi điện yêu cầu ông H phải lập văn bản thanh quyết toán cụ thể các số tiền, vàng đã nhận nhưng ông H vẫn cố tình né tránh.
Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Ngọc H phải trả lại cho ông Huỳnh Văn T toàn bộ 100 lượng vàng 24K loại 9999 và 550.000.000 đồng nêu trên. Ngoài ra, ông T cũng đồng ý giao trả lại cho ông Trần Ngọc H số tiền 1.800.000.000 đồng, vì số tiền này ông T đã nhận của ông H, nên có trách nhiệm trả lại cho ông H.
Bị đơn ông Trần Ngọc H trình bày:
Ông H và ông T chỉ là quan hệ xã giao vì thời điểm vào năm 2001 ông T là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A1. Thực tế, hai bên không có quan hệ hùn vốn, làm ăn nên không có việc ông H nhận tiền, vàng của ông T, cũng như không có việc ông H giao số tiền 1.800.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu Đ. Trong khoảng thời gian này, ông H có nhiều mối quan hệ làm ăn với nhiều người khác nên có lúc ký nhận tiền, vàng nhưng không biết tại sao ông T lại có cuốn sổ tay thể hiện ông H ký nhận số tiền, vàng nêu trên. Vì vậy, ông H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu Đ trình bày:
Vào khoảng 16 giờ ngày 01/12/2007, ông Trần Ngọc H có đến nhà đưa cho bà Đ số tiền 1.800.000.000 đồng, nói gửi cho anh Chín T2, bà Đ chỉ nhận tiền, ông H không yêu cầu bà Đ viết giấy nhận tiền. Chiều tối bà Đ có báo lại với ông T2 là ông H có gửi 1.800.000.000 đồng, ông T2 nói bà Đ ghi vào sổ ngày nhận tiền và số tiền đã nhận của ông H để nhớ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T1 trình bày:
Bà T1 không biết ông T2 là ai, đồng thời bà T1 cũng không liên quan gì đến việc ông T2 khởi kiện ông Trần Ngọc H.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn A trình bày:
Vào tháng 10/2000, cháu ông gọi ông bằng chú tên là Trần Ngọc H, tự là Q có dẫn ông A đến nhà ông T2 để bón phân cây kiểng cho ông T2. Ông A có dẫn ông H đi mua đất và nói chuyện qua điện thoại, ông A biết ông H có hỏi ý kiến ông T2 về đất vào năm 2001. Ông H có mua đất của ông Trần Văn S và vợ là bà Nguyễn Thị Ú, bà Ú là cô ruột của ông A. Lúc ông H nhận tiền về, ông A có hỏi thì ông H trả lời là nhận tiền từ ông T2 (Bà Nguyễn Thị Ú đã chết cách đây đã 6, 7 năm, còn ông Trần Văn S hiện nay đã bị lẩn, không còn minh mẫn).
Nay ông T2 khởi kiện buộc ông Trần Văn H1 phải giao trả lại toàn bộ số tiền vàng đã nhận gồm 100 lượng vàng 24K loại 9999 và 550.000.000 đồng, ông T2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng ông Đặng Công N1 trình bày:
Ông N1 với ông H1 là chỗ làm ăn, quen biết với nhau giai đoạn năm 2000 đến năm 2002. Thời gian qua ông H1 có tâm sự với ông N1 là bị ông T2 kiện đòi tài sản. Vào khoảng giữa năm 2001, ông H1 nói với ông N1 là có thửa đất rộng khoảng 5.500m2 tại khu vực V, phường A cần bán, nhưng ông H1 không đủ tiền mua và có rủ ông N1 góp vốn để cùng mua. Sau nhiều lần thỏa thuận thì vào khoảng tháng 8/2001 ông N1 có giao cho ông H1 bao gồm: 100 lượng vàng 9999 và 50.000.000 đồng và sau đó khoảng 02 tuần ông N1 có giao cho ông H1 số tiền 500.000.000 đồng. Khi ông N1 giao nhận tiền cho ông H1, thì ông H1 có ghi việc nhận tiền, vàng vào hai trang quyển sổ của ông N1 (như ông N1 nhớ thì đó là quyển sổ mới bìa màu đỏ có ký hiệu “2001 Agenda Giao thông vận tải” mà ông N1 mua khi đi công tác tại Hà Nội đầu năm 2001). Ngoài ra, quyển sổ không có ghi thêm nội dung nào hết.
Đến khoảng tháng 4,5/2002 ông N1 có nói ông H1 thanh toán lại tiền cho ông N1 và ông H1 đã trả cho ông tổng cộng là 100 lượng vàng 9999 và 550.000.000 đồng, cùng một phần lãi. Sau khi nhận đủ tiền, ông N1 đã trao lại quyển sổ trên cho ông H1, còn ông H1 sau khi nhận lại quyển sổ có ghi nhận tiền của ông N1, có sử dụng tiếp quyển sổ thế nào hay đưa cho ai thì ông N1 hoàn toàn không biết. Ông N1 cam kết lời trình bày của ông N1 là đúng và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2014/DS-ST ngày 08/01/2014, Tòa án nhân Quận A quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Không chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn T về việc buộc ông Trần Ngọc H phải giao trả 100 lượng vàng 24K loại 9999 và 550.000.000 đồng, tương ứng với tổng số tiền là 3.791.000.000 đồng. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17/01/2014, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T kháng cáo.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 739/2014/DS-PT ngày 10/6/2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Huỳnh Văn T có đơn đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Quyết định số 15/2017/KN-DS ngày 24/3/2017, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên, đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm nêu trên và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 203/2017/DS-GĐT ngày 25/9/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận Kháng nghị số 15/2017/KN-DS ngày 24/3/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 739/2014/DS-PT ngày 10/6/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2014/DS-ST ngày 08/01/2014 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn ông Huỳnh Văn T và bị đơn là ông Trần Ngọc H; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2018/DS-ST ngày 24/5/2018, Tòa án nhân dân Quận 12 quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T.
Buộc ông Trần Ngọc H phải giao trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền là 2.310.000.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số 09/2018/QĐ-BPKCTT ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12 cho đến khi ông Trần Ngọc H thanh toán xong cho ông Huỳnh Văn T số tiền 2.310.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án, lãi suất do chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 01/6/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐNPT-VKS-DS kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm về phần căn cứ tính án phí.
Ngày 06/6/2018, ông Trần Ngọc H kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 681/2020/DS-PT ngày 20/7/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 về căn cứ tính án phí.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc H.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về căn cứ tính án phí.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T.
- Buộc ông Trần Ngọc H phải giao trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền là 2.310.000.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày ông Huỳnh Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Ngọc H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số 09/2018/QĐ-BPKCTT ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12 cho đến khi ông Trần Ngọc H thanh toán xong cho ông Huỳnh Văn T số tiền 2.310.000.000 đồng.
- Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 31/2017/QĐ-BPBĐ ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân Quận 12.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 01/10/2020 và ngày 28/9/2023, bị đơn ông Trần Ngọc H có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 92/2023/KN-DS ngày 08/12/2023, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định pháp luật.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 49/2024/DS-GĐT ngày 05/3/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 92/2023/KN-DS ngày 08/12/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 681/2020/DS-PT ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn ông Huỳnh Văn T và bị đơn là ông Trần Ngọc H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định pháp luật.
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn là người kháng cáo ông Trần Ngọc H do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Tuấn N trình bày:
- Đề nghị Hội đồng xét xử theo Quyết định giám đốc thẩm số 49/2024/DS-GĐT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T, đồng thời ông T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu Đ trình bày: Ông T xin rút lại đơn xin rút yêu cầu khởi kiện.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T1 do người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị Liễu O trình bày:Đề nghị hội đồng xét xử hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 09/2018/QĐ-BPKCTT ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- - Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
- - Về hình thức đơn kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.
- - Về nội dung vụ án:
Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 rút toàn bộ kháng nghị phúc thẩm, nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuy nhiên, bị đơn không đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên cần xem xét các yêu cầu của đương sự theo thủ tục phúc thẩm.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn Trần Văn H1 phải trả lại 100 lượng vàng 24K loại 9999 và số tiền 550.000.000 đồng.
Theo hồ sơ, căn cứ quyển sổ tay do nguyên đơn cung cấp thể hiện ngày 01/8/2001 bị đơn ký nhận 100 lượng vàng 24k loại 9999 và 50.000.000 đồng, ông H1 nhận tự viết vào quyển sổ tay của ông T. Đến ngày 16/8/2001 ông H1 giao thêm số tiền 500.000.000 đồng và cũng tự viết và ký nhận vào trong sổ tay của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thừa nhận có quan hệ làm ăn với nguyên đơn nhưng thừa nhận chữ ký và chữ viết trong những trang giấy do nguyên đơn cung cấp là của mình. Theo bị đơn thì trong khoảng thời gian này, bị đơn có nhiều mối quan hệ làm ăn với nhiều người khác nên có lúc ký nhận tiền, vàng nhưng không biết tại sao nguyên đơn lại có cuốn sổ tay thể hiện bị đơn ký nhận số tiền, vàng như nguyên đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh lời trình bày của mình. Người làm chứng là ông Đặng Công N1 có bản tự khai ngày 10/4/2018 cho rằng quyển sổ ký nhận tiền vàng của bị đơn là của ông, do giữa ông và bị đơn có quan hệ làm ăn chung với nhau nên bị đơn đã tự viết và ký nhận tiền vàng và sau khi bị đơn thanh toán xong thì ông đã giao lại quyền sổ tay cho bị đơn, lời trình bày của người làm chứng là ông N1 không có cơ sở xem xét vì vụ án thụ lý kéo dài từ năm 2012 đến nay, các lần xét xử trước đây bị đơn khai quyển sổ của ông nhưng bị thất lạc, đến thời điểm xét xử sơ thẩm năm 2018 ông Hoàng cung C người làm chứng là ông N1 là không khách quan và không thuyết phục. Như vậy, nguyên đơn đưa ra được chứng cứ chứng minh bị đơn có nhận vàng và tiền bằng cách ký vào sổ tay do nguyên đơn lưu giữ, bị đơn thừa nhận chữ kí, chữ viết là của mình nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh khoản tiền và vàng trên là nợ của người khác, không phải của nguyên đơn nên có cơ sở xác định bị đơn nhận của nguyên đơn 100 lượng vàng 9999 và 550.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số vàng, tiền trên là có căn cứ.
Đối với số tiền 1.800.000.000 đồng: Theo nhận định tại quyết định giám đốc thẩm (lần 02) của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, số tiền trên được nguyên đơn thừa nhận là bị đơn đã đem đến nhà trả cho nguyên đơn vào ngày 01/12/2007 nên cần phải cấn trừ vào số tiền cho bị đơn như sau: 1.800.000.000 đồng trừ đi 550.000.000 đồng còn 1.250.000.000 đồng. Số tiền 1.250.000.000 đồng tiếp tục quy đổi thành vàng 24K loại 9999 tại thời điểm ông H1 trả tiền (ngày 01/12/2007) để tiếp tục cấn trừ vào 100 lượng vàng 24K loại 9999 mà ông H1 còn nợ. Theo công văn số 04/SJC ngày 07/01/2025 của công ty S1, giá vàng SJC ngày 04/12/2007 bán ra là 15.500.000 đồng/lượng. Như vậy, số vàng còn lại tại thời điểm trả nợ sẽ tương ứng với 1.250.000.000 đồng : 15.500.000 đồng = 80,6 lượng vàng, số vàng bị đơn còn nợ nguyên đơn là 100-80,6=19,4 lượng vàng x giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm lần 02 là ngày 24/5/2018 là 35.600.000 đồng, quy ra tiền thì bị đơn phải trả nguyên đơn là 19,4 x 35.600.000 đồng = 690.640.000 đồng. Bản án sơ thẩm quy đổi 100 lượng vàng 24K loại 9999 tại thời điểm xét xử sơ thẩm cộng với số tiền nợ là 550.000.000 đồng sau đó mới trừ đi 1.800.000.000 đồng và buộc ông H1 trả cho ông T số tiền còn lại 2.310.000.000 đồng là không chính xác, chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Xét kháng cáo: Như nhận định ở trên, có cơ sở buộc bị đơn trả nguyên đơn số tiền 690.640.000 đồng nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Xét kháng nghị: Ngày 31/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 rút toàn bộ kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKNPT-VKS-DS ngày 01/6/2018 nên đình chỉ xét kháng nghị.
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Áp dụng Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Đình chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12, buộc bị đơn trả nguyên đơn số tiền 690.640.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- [1.1]. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 49/2024/DS-GĐT ngày 05/3/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 681/2020/DS-PT ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định pháp luật.
- [1.2]. Tại Quyết định số 01/QĐ-VKS-DS ngày 31/12/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã quyết định rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKNPT-DS ngày 01/6/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12. Căn cứ Điều 312 và điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.
- [1.3]. Ngày 06/6/2018, ông Trần Ngọc H kháng cáo toàn bộ bản án và tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Tuấn N đại diện theo ủy quyền của ông H vẫn giữ nguyên yêu yêu cầu kháng cáo.
- [1.4]. Tại Biên bản làm việc ngày 31/10/2024 nguyên đơn ông Huỳnh Văn T rút toàn bộ đơn khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi việc rút toàn bộ đơn khởi kiện.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
- [2.1]. Giữa ông Huỳnh Văn T và ông Trần Ngọc H có hùn vốn để mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 01/8/2001, ông H có nhận 100 lượng vàng 24K loại 9999, 50.000.000 đồng và ngày 16/8/2001 nhận 500.000.000 đồng của ông T. Ngày 01/12/2007, ông H trả cho ông T 1.800.000.000 đồng. Việc ông H nhận vàng, tiền, trả 1.800.000.000 đồng đều ký nhận vào cuốn sổ tay "2001 Agenda Giao thông văn tải” của ông T, được các biên thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án nên đây là sự kiện, tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- [2.2]. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy, từ khi ông H trả 1.800.000.000 đồng cho ông T cho đến khi ông T khởi kiện yêu cầu ông H trả 100 lượng vàng là hơn 4 năm. Trong thời gian này, ông T không có ý kiến hay phản đối gì về việc nhận 1.800.000.000 đồng từ ông H. Ngoài việc nhận vàng, tiền và trả tiền giữa ông H với ông T nêu trên, giữa hai bên không có giao dịch nào khác nên có thể xác định ông T đã chấp nhận việc ông H trả vàng bằng việc quy đổi ra tiền vào ngày 01/12/2007. Mặt khác, theo tập quán ở địa phương thì vàng là đối tượng, công cụ thanh toán cũng như việc quy đổi từ vàng sang tiền hoặc từ tiền sang vàng tại thời điểm thực hiện, thanh toán các giao dịch dân và pháp luật cũng không cấm phương thức thanh toán quy đổi này. Trên thực tế, ông T đã nhận và sử dụng 1.250.000.000 đồng (1.800.000.000 đồng - 550.000.000 đồng) của ông H trả từ ngày 01/12/2007 cho đến nay là hơn 17 năm và việc sử dụng số tiền này có thể sinh lời. Trong khi đó, giá vàng tăng từ thời điểm ông H trả tiền cho ông T cho đến ngày xét xử sơ thẩm là do yếu tố khách quan không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Do đó, để đảm bảo công bằng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cần phải quy đổi 1.250.000.000 đồng mà ông H đã trả cho ông T sang vàng tại thời điểm thanh toán để cấn trừ số vàng mà ông H đã nhận của ông T, số vàng còn thiếu ông H phải trả cho ông T được quy đổi ra tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
- [2.3]. Theo công văn số 04/SJC ngày 07/01/2025 của Công ty S1, giá vàng SJC ngày 04/12/2007 bán ra là 15.500.000 đồng/lượng. Như vậy, số vàng còn lại tại thời điểm ông H trả cho ông T sẽ là 1.250.000.000 đồng : 15.500.000 đồng = 80,6 lượng vàng, số vàng bị đơn còn thiếu của nguyên đơn là 100 - 80,6 = 19,4 lượng vàng x giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm lần 02 là ngày 24/5/2018 là 35.600.000 đồng, quy ra tiền thì bị đơn phải trả nguyên đơn là 19,4 x 35.600.000 đồng = 690.640.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 100 lượng vàng quy đổi ra tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm và buộc nguyên đơn trả cho bị đơn 1.250.000.000 đồng là không đúng và không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị đơn.
- [2.4]. Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 09/2018/QĐ-BPKTTT ngày 07/02/2018 phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là quyền sử dụng đất tại thửa số 917, tờ bản đồ số 43 tọa lạc tại phường T, Quận A theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CH14561 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 12/01/2018 là tài sản chung của vợ chồng ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị Thu T1. Trong khi đó, nghĩa vụ trả vàng cho ông T là nghĩa vụ riêng của ông H nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại phong tỏa tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của ông H. Do ông H có nghĩa vụ trả cho ông T 690.640.000 đồng nên khi ông H thi hành xong bản án phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án cấp sơ thẩm sẽ ban hành quyết định hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 09/2018/QĐ-BPKTTT ngày 07/02/2018.
- [2.5]. Từ những nhận định trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm số 374/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T và bị đơn ông Trần Ngọc H (người cao tuổi) thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 147, Điều 148, Điều 293, Điều 296, Điều 306, khoản 2 Điều 308, Điều 313, Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc H trong hạn luật định được chấp nhận.
Về nội dung:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc H
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKNPT-DS ngày 01/6/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T: Buộc ông Trần Ngọc H phải giao trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền là 690.640.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày ông Huỳnh Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Ngọc H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số 09/2018/QĐ-BPKCTT ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12 cho đến khi ông Trần Ngọc H thi hành án xong.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T thuộc trường hợp miễn nộp án phí nên hoàn lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 45.500.000 đồng theo Biên lai thu số AB/2011/05456 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T thuộc trường hợp miễn nộp án phí nên hoàn lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền án phí đã nộp là 200.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2012/01087 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Bị đơn ông Trần Ngọc H thuộc trường hợp miễn nộp án phí nên hoàn lại cho ông Trần Ngọc H số tiền án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2017/0036605 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Thẩm phán | Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Sỹ Hồng Nam | Phạm Thị Kim | Trương Văn Hiền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 161/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 161/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
