TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 161/2024/HSST Ngày: 25-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Lê Thị Thu Yến
Bà Cao Thị Loan
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Việt Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trí D, sinh ngày 20/11/1989 tại tỉnh Tiền Giang; tên gọi khác: Không có. Số CCCD: [...]. Nơi đăng ký thường trú: số 48 Ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn T (1950); Mẹ: Huỳnh Thị T1 (1948); Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 16/5/2023 tại Bản án số 40/2023/HSST bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, chấp hành xong ngày 05/5/2024.
Nhân thân:
+Ngày 29/6/2006 tại Bản án số 52/2006/HSPT bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2008, bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, tuy nhiên tội phạm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do cố ý nên đến ngày 21/01/2009 được xóa án tích;
+Ngày 02/02/2010, tại Bản án số 12/2010/HSST bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 11/02/2012;
+Ngày 09/11/2012, tại Bản án số 173/20212/HSST bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 07/12/2013.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/6/2024, tạm giam ngày 03/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
Lê Nguyễn Tuấn T2, sinh năm: 1985. Xin vắng mặt
Địa chỉ: số D P, Phường G (nay là Phường A), thành phố M, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 29/6/2024, Nguyễn Trí D đi xe buýt từ huyện C đến thành phố M, tỉnh Tiền Giang để quan sát tìm tài sản trộm. Đến 09 giờ 25 phút cùng ngày, khi xe buýt dừng lại cho khách xuống tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, lúc này D ngồi trên xe quan sát thấy xe mô tô Wave Alpha màu đỏ, biển số 63B9-765.20 (bên trong cốp xe có bóp vải) của anh Lê Nguyễn Tuấn T2 đang dựng phía trước cơ sở xét nghiệm y khoa M, thuộc ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, chìa khóa còn để trên xe, không người trông coi nên D nảy sinh ý định lấy trộm xe trên. Ngay sau đó, D liền xuống xe đi bộ sang đường đến gần vị trí đậu xe mô tô trên đứng giả vờ nghe điện thoại và quan sát xung quanh không thấy ai, D lấy nón bảo hiểm trên xe đội lên đầu rồi lên xe khởi động máy tẩu thoát về hướng ngã ba T đến tỉnh Bạc Liêu. Trên đường đi, D dùng tay tháo bửng xe phía trước, ốp mặt nạ xe phía trước và kính chiếu hậu bên trái ném bỏ xuống sông (không nhớ rõ vị trí). Khi đến thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì D vào một tiệm sửa xe (không nhớ bảng hiệu) mượn dụng cụ tháo bình xăng xe bán cho tiệm được 50.000 đồng rồi gắn lại bình xăng hoa mai đã mua trước đó. Sáng ngày 30/6/2024, D điều khiển xe đi Thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ, khi đến địa phận tỉnh Long An thì bị Công an xã N, huyện T, tỉnh Long An bắt giữ cùng tang vật.
Bản kết luận định giá tài sản số 2869/BKL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha màu đỏ, biển số 63B9-765.20, số khung 3901HY048738, số máy JA39E0048804 trị giá 12.000.000 đồng. Riêng nón bảo hiểm và bóp vải mua đã lâu không cón giá trị nên Hội đồng không định giá được.
Tại bản cáo trạng số 145/CT-VKSMT ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Nguyễn Trí D để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
*Tại phiên tòa:
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Trí D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
+Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
+Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.
+Ghi nhận vật chứng đã xử lý xong.
+Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì.
-Bị cáo Nguyễn Trí D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, bị cáo không bào chữa cho hành vi phạm tội. Nói lời sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là sai, rất hối hận, hứa sẽ không vi phạm nữa, xin xem xét mức án vừa phải để sớm trở về làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trí D đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Lúc 09 giờ 25 phút ngày 29/6/2024 tại phía trước Cơ sở xét nghiệm y khoa M thuộc ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Trí D đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu đỏ, biển số 63B9-765.20 của bị hại Lê Nguyễn Tuấn T2 trị giá 12.000.000 đồng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Trí D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng chỉ vì có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo đã bị xét xử 03 lần về hành vi trộm cắp tài sản, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên thuộc tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tôt.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lê Nguyễn Tuấn T2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên cần ghi nhận.
[4] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không xem xét.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí D: 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/6/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận anh Lê Nguyễn Tuấn T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nguyễn Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 161/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 161/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp TS
