Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 161/2024/HS – ST

Ngày: 27 – 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tín và ông Nguyễn Văn Thể;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Lương Thành Công – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2024/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với:

1- Bị cáo: Nguyễn Văn B, sinh năm 1989, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Thôn A C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Mạnh H và bà Hoàng Thị L; vợ: Trần Thị M, con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 28/12/2020, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích; tạm giữ: Từ ngày 04/10/2024 đến ngày 13/10/2024 chuyển sang tạm giam, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã D. Có mặt.

2- Người chứng kiến: Ông Lại Thiên B1 và bà Lại Thị L1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/10/2024, tổ công tác Công an xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, đến khu vực đoạn đường gần quầy thuốc tân dược của bà Lại Thị L1, sinh năm 1990 tại thôn D, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam phát hiện Nguyễn Văn B đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện B đang cầm tại lòng bàn tay phải 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột . Tại đây B khai là ma túy Heroine B mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng có liên quan theo quy định của pháp luật.

Vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: Thu trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn B 2 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu QT01 và 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng, dạng cục, bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn B tại thôn A C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam: Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam không thu giữ bất kỳ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 796/KL – KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,413g, loại: Heroine (H).

Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn Văn B khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/10/2024 khi Nguyễn Văn B đang ở nhà thì có một người nam giới tên là T (B khai không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ ở đâu) gọi điện cho B hỏi “Mày có tiền không thì góp vào cùng đi mua ma túy sử dụng chung” thì B đồng ý và bảo có 40.000 đồng. Sau đó, T điều khiển xe mô tô, loại xe Wave màu đỏ (B không nhớ BKS) đến nhà đón B đi mua ma túy. Khi gặp, B đưa cho T số tiền 40.000 đồng rồi T điều khiển xe mô tô chở B. Khi đến khu vực bờ máng thuộc địa phận thị xã D, tỉnh Hà Nam, T bảo B xuống xe đứng đợi rồi một mình điều khiển xe đi mua ma túy. Khoảng 05 phút sau, T quay lại đưa cho B 01 gói giấy màu trắng bên trong có ma túy và số tiền 10.000 đồng để B mua xi lanh về cùng sử dụng ma túy. B cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải ngồi lên xe mô tô để T chở đi mua xi lanh. Khi đến trước hiệu thuốc tân dược của Lại Thị L1, thuộc thôn D, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, còn T điều khiển xe bỏ chạy thoát.

Về nguồn gốc số tiền 40.000 đồng mà B góp tiền đi mua ma túy, B khai nhận đó là tiền do bản thân lao động mà có.

Cáo trạng số 167/CT – VKS – DT ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn B mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 04/10/2024, tại khu vực trước hiệu thuốc tân dược của bà Lại Thị L1, thuộc địa phận thôn D, xã T, thị xã D, Nguyễn Văn B đang có hành vi cất giữ trái phép 0,413g ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương, hành vi cất giữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 167/CT – VKS – DT ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và đã được Bản án số 01/2019/HS-ST ngày 18/01/2019 của TAND huyện Bình Lục áp dụng. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên nhận thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy và đã từng bị kết án về tội cùng loại. Vì vậy, sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX cần thiết phải cho bị cáo cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về các tình tiết khác: Đối với người đàn ông tên là T mà bị cáo Nguyễn Văn B khai là người đã rủ rê B góp tiền và chở B đi mua ma túy. Tuy nhiên, B không biết cụ thể họ, tên, tuổi, địa chỉ của T ở đâu, ngoài lời khai của B ra không có căn cứ nào để chứng minh, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ là có cơ sở.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có số 796/KTHS và dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H: Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn B là số tiền T đưa cho B mục đích mua xi lanh để sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có số 796/KTHS có dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H.

    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng.

    (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 15/11/2024).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng.

    Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mạnh Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS – ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 161/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger