TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 161/2024/HSST.
Ngày: 08/08/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tuất
- Ông Nguyễn Văn Diệm
- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Ông Tô Xuân Tùng- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:
NGÔ VĂN T, sinh năm: 2003; HKTT và chỗ ở: Thôn M, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 07/12; Con ông: Ngô Văn T (đã chết) và bà Dương Thị H (đã chết); Bị can là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị can bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/06/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại giam S – Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.
PHẠM VIẾT K, sinh năm: 1994; HKTT: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Không nơi cư trú cố định; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Viết Q và bà Nguyễn Thị L; Gia đình bị can có 03 con, bị can là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/04/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố H – Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
+ Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Số H, ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội
Vắng mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02/2023, Phạm Viết K và Ngô Văn T1 được anh Nguyễn Văn H1 (sinh năm: 1986: Nơi cư trú: số nhà H, ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội) thuê làm thợ nhôm tại địa chỉ số nhà H, ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Ngày 10/05/2023, anh H1 mua một số thanh nhôm PMA màu ghi mỗi thanh nhôm nặng 6,8kg và vận chuyển về số nhà H, ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội để gia công cho khách. Khi thấy các thanh nhôm anh H1 để trong xưởng T1 rủ K lấy trộm để mang đi bán kiếm lời. Khoảng 12h45 phút ngày 16/05/2023, khi anh H1 đi vắng, K và T1 đã trộm cắp 12 thanh nhôm đã được cắt ngắn đang để trong xưởng mang bán cho bà Phạm Thị T2 (sinh năm: 1964; Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội - làm nghề buôn bán đồng nát) được 2.000.000 đồng, T1 chia cho K 500.000 đồng. Sau đó, K bỏ trốn vào tỉnh Gia Lai, còn T1 bỏ trốn đi nơi khác.
Ngày 18/05/2023, anh Nguyễn Văn H1 đã đến Cơ quan công an để trình báo nội dung vụ việc nêu trên, ngoài 12 thanh nhôm bị mất trộm anh H1 còn trình báo bị mất trộm số tiền 12.000.000 đồng.
Ngày 29/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có yêu cầu định giá tài sản đối với 12 thanh nhôm nhãn hiệu PMA màu ghi mà K và T1 đã trộm cắp được của anh Nguyễn Văn H1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 105/KL- HĐĐGTS ngày 13/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T thể hiện: 12 cây nhôm nhãn hiệu PMA, màu ghi, mới nguyên cây, chưa qua sử dụng có giá trị là 7.670.400 đồng.
Đến ngày 23/08/2023, Phạm Viết K đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của K phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được. Đối với số tiền 12.000.000 đồng anh H1 trình báo K khai không trộm cắp số tiền này.
Sau khi trộm cắp tài sản, Ngô Văn T1 đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định truy nã. Hết thời hạn điều tra, do chưa bắt được T1 nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ. Đến ngày 09/06/2024, Ngô Văn T1 bị bắt theo lệnh truy nã nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có văn bản đề nghị rút hồ sơ vụ án Phạm Viết K để nhập vụ án tiến hành điều tra chung trong một vụ án. Tại Cơ quan điều tra, T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của T1 phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được. Đối với số tiền 12.000.000 đồng anh H1 trình báo T1 khai không trộm cắp số tiền này.
Đối với bà Phạm Thị T2 đã mua các thanh nhôm nhưng không biết việc T1, K trộm cắp mà có, sau khi mua bà T2 đã bán lại số nhôm trên cho những người mua không quen biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xử lý gì đối với bà T2.
Đối với số tiền 12.000.000 đồng anh H1 trình báo bị mất trộm, quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xác định K, T1 trộm cắp số tiền này nên ngày 21/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định tách để tiếp tục điều tra làm rõ.
Về dân sự: Phạm Viết K đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 30.500.000 đồng, anh H1 đã nhận tiền và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho K.
Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS-TT ngày 22 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Ngô Văn T1, Phạm Viết K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Ngô Văn T1 từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Phạm Viết K từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Buộc bị cáo Phạm Viết K phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu lời bất chính.
Buộc bị cáo Ngô Văn T1 phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính.
Về dân sự: Gia đình bị cáo Phạm Viết K không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo K, bị cáo T1 và người bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo Ngô Văn T1, Phạm Viết K giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Hồi 12h45 phút ngày 18/05/2023, tại xưởng làm nhôm của anh Nguyễn Văn H1 ở số nhà H, ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, Phạm Viết K và Ngô Văn T1 đã trộm cắp của anh Nguyễn Văn H1 12 thanh nhôm PMA, màu ghi có tổng giá trị là 7.670.400 đồng.
Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.
[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân. Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Phạm Viết K, bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại và có ông ngoại là người có công với cách mạng nên có căn cứ được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Buộc bị cáo Phạm Viết K phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu lời bất chính.
Buộc bị cáo Ngô Văn T1 phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính.
[7] Về dân sự:
Gia đình bị cáo Phạm Viết K không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo K, bị cáo T1 và người bị hại.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với bà Phạm Thị T2 khi mua các thanh nhôm không biết là tài sản do T1, K trộm cắp mà có nên Tòa không xét.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[10].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Ngô Văn T1, Phạm Viết K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối bị cáo Ngô Văn T1.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối bị cáo Phạm Viết K.
- - Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T1 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2024.
[2] Xử phạt: Bị cáo Phạm Viết K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/04/2024.
[3] Xử lý vật chứng:
- + Buộc bị cáo Phạm Viết K phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu lời bất chính.
- + Buộc bị cáo Ngô Văn T1 phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính.
[3]. Về án phí:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Lê Hương Giang |
Bản án số 161/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 161/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
