Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HSPT

Ngày: 19/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương

Ông Nguyễn Xuân Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Trần Thị Thu S – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 543/2023/HSPT ngày 11/12/2023 đối với bị cáo Chu Ngọc T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 548/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Chu Ngọc T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1993 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 33/3, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Chu Văn H; Con bà: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Nguyễn Đức Â, sinh năm 1995 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 5, tổ F, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1947; Con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  3. Trần Thanh H2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1995 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: E, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; họ tên cha không rõ; Con bà Trần Thị Kim H3, sinh năm 1968; Bị cáo sống chung với chị Lý Hồng N, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Đinh Công T1 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ)

(Trong vụ án còn có bị cáo Vũ Thế Đ nhưng không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Trần Thanh H2Nguyễn Đức  là bạn quen biết nhau và đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, khi T, Đ,  đang hát tại quán karaoke “Hương Dạ T2” thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì các bị cáo nảy sinh ý định tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy và thoả thuận sau khi sử dụng ma túy xong hết tổng chi phí bao nhiêu thì sẽ chia đều để cùng chi trả. Ngoài ra,  còn rủ thêm Hoàng Thị T3 (sinh năm 1999, thường trú tại xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) là nhân viên quán karaoke “Hương Dạ T2” đi sử dụng ma túy cùng cả nhóm, T3 đồng ý.

Để thực hiện ý định trên, Đ sử dụng điện thoại di động số 0919.121.xxx gọi điện thoại cho Trần Thanh H2 theo số 0373380079 nhờ H2 tìm địa điểm sử dụng ma túy. H2 đồng ý rồi liên lạc qua Z với người thanh niên tên T4 với nick “Nguyễn T5” (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê căn nhà ở địa chỉ 98/16/14, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để cho cả nhóm sử dụng ma túy và hẹn sẽ trả tiền thuê nhà cho T5 sau.

Sau khi thuê được địa điểm, H2 gửi vị trí căn nhà nêu trên cho cả nhóm đến để sử dụng ma tuý. T điều khiển xe mô tô biển số 60F3-763.72 chở Đ đi trước, khi đến đầu hẻm I, đường V thuộc khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì gặp H2 rồi cùng nhau đi vào nhà thuê đã có sẵn loa, đèn, đĩa sứ, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) cuộn tròn để sử dụng ma túy.

Sau đó, T liên lạc qua Z và gặp người thanh niên tên Đ1 (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma tuý (hàng khay) và 05 viên thuốc lắc với giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) nhưng chưa trả tiền cho Đ1. Sau khi Đ1 giao ma tuý cho T, T đưa gói ma túy (hàng khay) cho Đ cà mịn ma tuý, còn 05 viên thuốc lắc T để trên nền nhà cho ai sử dụng thì tự lấy. Cùng lúc này, Â điều khiển xe mô tô biển số 60F1-333.36 chở T3 tới, T xuống nhà mở cửa dẫn ÂT3 lên phòng. T, Đ, Â, H2T3 cùng nhau sử dụng ma túy. Ân bẻ 1/4 viên thuốc lắc và hàng khay đã cà mịn đưa cho T3 sử dụng, còn T, Â, Đức H4 mỗi người sử dụng 1/4 viên thuốc lắc và hàng khay, sau đó do đã say thuốc nên không nhớ cụ thể đã sử dụng thêm số lượng bao nhiêu.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi T, Â, Đ, H4T3 đang sử dụng trái phép chất ma túy ở nhà tại địa chỉ nêu trên thì bị công an phường Q, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo T, Đ, Â, đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Riêng bị cáo H4 quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên nhưng tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) đĩa bằng sứ tròn màu trắng bên trong có dính chất bột màu trắng; 01 tờ tiền cuộn tròn mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) bên trong có dính chất bột màu trắng (hàng khay) và 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh (thuốc lắc) đã được niêm phong có chữ ký của Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Trần Thanh H2Nguyễn Đức  và dấu mộc tròn đỏ của Công an phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • 01 loa hiệu Harman/Kardon; 01 đèn chiếu màu trắng không nhãn hiệu; 01 đèn chiếu màu đen hiệu K10 là dụng cụ dùng để tổ chức sử dụng ma tuý.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu tím, số IMEI: 351942135852521 của Chu Ngọc T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng gold (không kiểm tra được bên trong) của Vũ Thế Đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xám, số IMEI: 350777733455868 của Nguyễn Đức Â; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu xanh, số IMEI: 352653445352289 của Trần Thanh H2 dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda SH 150 màu trắng đen, biển số 60F1-333.36 của Nguyễn Đức  dùng để thực hiện hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả tài sản cho chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội.

  • 01 Giấy phép lái xe số [...] và 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Chu Ngọc T.
  • 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60F1-333.36 số: 60023522; 01 Căn cước công dân số: [...]; 01 Giấy phép lái xe số: [...] đều mang tên Nguyễn Đức Â.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 60F3-763.72 thu giữ của Chu Ngọc T. T khai: T mượn xe của chị Chu Thị Mỹ L (chị gái T- sinh năm 1988, đăng ký thường trú: 121/1, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) để đi công việc. Chị L không biết sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả xe cho chị L;
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xám, biển số 77N1-041.35 thu giữ của Trần Thanh H2. H2 khai mượn xe mô tô trên của chị Lý Hồng N (sống chung như vợ chồng với H2, sinh năm 1994, cư trú tại: K, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Qua xác minh tại Đ4 Công an thành phố B: Xe mô tô 77N1-041.35 do anh Nguyễn Thái D1 (sinh năm 1986, cư trú tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh D1 khai đã bán chiếc xe trên cho chị Lý Hồng N vào tháng 11/2022 nhưng không làm thủ tục sang tên. Chị N khai cho H2 mượn xe để đi công việc và không biết H2 sử dụng chiếc xe trên vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả xe cho chị N quản lý.

Tại Bản kết luận giám định số số 77/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • Mẫu mảnh viên nén màu xanh (ký hiệu mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0884, loại Racemethorphan.
  • Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Không hoàn lại mẫu vật do đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra, Chu Ngọc T khai nhận: T liên lạc với Đ1 (không rõ lai lịch) qua tài khoản Zalo “Do Do”, T không có số điện thoại của Đ1. Kiểm tra nội dung tin nhắn Zalo thể hiện nội dung mua bán ma tuý và Đ1 yêu cầu T chuyển tiền vào tài khoản 0121000856362- V - Nguyễn Thành Đ2. Tuy nhiên, qua xác minh số tài khoản 0121000856362 ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị T6. Chị T6 khai không biết và không liên lạc với người tên TĐ2. Qua xác minh, căn nhà số I, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do bà Nguyễn Thị Thúy H5 - sinh năm 1966 là chủ sở hữu. Bà H5 đã định cư tại Úc từ năm 2010 và giao căn nhà nêu trên lại cho ông Nguyễn Ngọc N1 -sinh năm 1971 (em rể bà H5) quản lý. Sau đó, ông N1 đã bị bệnh và chết vào tháng 8/2022 nên từ đó ông Nguyễn Duy H6 -sinh năm 1967 (em trai bà H5) là người quản lý. Ông H6 khai: Căn nhà nêu trên trước đây ông N1 cho một thanh niên tên T6 (không rõ lai lịch) thuê. Sau khi ông N1 mất, ông H6 chỉ liên lạc qua Z (không có số điện thoại của T6) để lấy tiền thuê nhà nhưng T6 xin nợ nên ông H6 chưa gặp T6 và chưa lấy được tiền của T6.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 548/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa đã tuyên xử:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Thanh H2 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • - Xử phạt bị cáo Chu Ngọc T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức  07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Vũ Thế Đ 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/10/2023, bị cáo Nguyễn Đức  có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án xử phạt bị cáo là quá nặng;

Ngày 0/10/2023, bị cáo Trần Thanh H2 có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án xử phạt bị cáo là quá nặng;

Ngày 04/10/2023, bị cáo Chu Ngọc T có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án xử phạt bị cáo là quá nặng

Tại phiên tòa phúc thẩm,

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị không chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm

- Vị Luật sư bào chữa cho các bị cáo và các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét có việc “bỏ lọt tội phạm” của cấp sơ thẩm (thông qua việc có Đơn tố giác tội phạm ghi ngày 01/9/2023 của bị cáo Chu Ngọc T, Bản tường trình file ghi âm của bị án Vũ Thế Đ nộp tại phiên tòa: thể hiện trong vụ án còn có đối tượng Lê Công Q, sinh năm 1995, địa chỉ: E D, P.T, TP. có hành vi phạm tội cùng các bị cáo nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét, làm rõ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của các bị cáo Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Trần Thanh H2 làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xác định:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ xác định hành vi phạm tội (bị cáo Trần Thanh H2 trình bày không thống nhất nhưng cuối cùng cũng thừa nhận hành vi phạm tội) và khai nại trong vụ án còn có đối tượng Lê Công Q, sinh năm 1995, địa chỉ: E D, P.T, TP. có hành vi phạm tội cùng các bị cáo nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét, làm rõ). Hội đồng xét xử phúc thẩm trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận như sau:

  • Về nội dung vụ án: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, tại nhà số I, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Nguyễn Đức ÂTrần Thanh H2 có hành vi bàn bạc, thoả thuận góp tiền, thuê địa điểm và mua ma túy tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhau và tổ chức cho Hoàng Thị T3 sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an phường Q, thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Số lượng người tham gia việc sử dụng trái phép chất ma túy do các bị cáo tổ chức sử dụng là từ 02 người trở lên;
  • Về tội danh: Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Nguyễn Đức Â, Trần Thanh H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật;
  • Hồ sơ vụ án và quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm, các bị cáo Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Nguyễn Đức ÂTrần Thanh H2 không có lời trình bày về việc có đối tượng “Lê Công Q, sinh năm 1995, địa chỉ: E D, P.T, TP. có hành vi phạm tội cùng các bị cáo” - các bị cáo cho rằng có trình bày, có tố giác ở cấp nhưng không được chấp nhận và cũng không có tài liệu thể hiện nội dung các bị cáo khai nại.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm với các tài liệu các bị cáo cung cung cấp tại phiên tòa như: Đơn tố giác tội phạm ghi ngày 01/9/2023 của bị cáo Chu Ngọc T, Bản tường trình file ghi âm của bị án Vũ Thế Đ nộp tại phiên tòa – đã được Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa, cũng như lời trình bày của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm “thể hiện trong vụ án còn có đối tượng Lê Công Q, sinh năm 1995, địa chỉ: E D, P.T, TP. có hành vi phạm tội cùng các bị cáo” chưa đủ cơ sở để xác định theo quy định. Tuy nhiên, để tránh bỏ lọt tội phạm và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T xem xét theo quy định đối với trường hợp có “Đơn tố giác tội phạm”.

[2.2] Xét nội dung Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

  • Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã đánh giá: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T, Â, Đ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình được Ủy ban nhân dân phường T xác nhận. Do đó, cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt tù khởi điểm khung hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở;
  • Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do Đơn kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Đối với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo Chu Ngọc T, Nguyễn Đức Â, Trần Thanh H2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Hưng H7 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • - Xử phạt bị cáo Chu Ngọc T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức  07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân TP.Biên Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP.Biên Hòa;
  • - Công an TP.Biên Hòa;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Nhà tạm giữ CA.VC (2);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phương Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HSPT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 161/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Ngọc T, Vũ Thế Đ, Trần Thanh H2 và Nguyễn Đức  là bạn quen biết nhau và đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, khi T, Đ,  đang hát tại quán karaoke “Hương Dạ T2” thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì các bị cáo nảy sinh ý định tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy và thoả thuận sau khi sử dụng ma túy xong hết tổng chi phí bao nhiêu thì sẽ chia đều để cùng chi trả. Ngoài ra,  còn rủ thêm Hoàng Thị T3 (sinh năm 1999, thường trú tại xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) là nhân viên quán karaoke “Hương Dạ T2” đi sử dụng ma túy cùng cả nhóm, T3 đồng ý.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger