|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 161/2024/HS-ST
Ngày: 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Trí Long – Giáo viên
2. Bà Nguyễn Thị Thọ - Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên
Trong các ngày 25 và 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Trần Thanh T, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1992 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ F, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim L; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 (mười hai) tháng (Quyết định số 34/2016/QĐ-TA ngày 22/01/2016).
- - Năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 (mười tám) tháng (Quyết định số 42/2019/QĐ-TA ngày 16/7/2019).
- Bị bắt ngày 11/6/2024 (có mặt).
2/ Võ Thanh L1, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2005 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H (đã chết) và bà Võ Thị Hoàng A; chưa có vợ con; Tiền sự: Không;
Tiền án: Năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa tuyên phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 70/2022/HS-ST ngày 30/8/2022); chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/02/2024.
Bị bắt ngày 20/4/2024 (có mặt).
3/ Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2007 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng V và bà Nguyễn Thị Ngọc S; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo P: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1987, địa chỉ: Khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo P: Bà Hồ Thị H1 – Trợ giúp pháp lý viên thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh B. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 18/3/2024 Tổ chuyên đề xử lý vi phạm nồng độ cồn, ma túy, tốc độ theo kế hoạch công tác tuần 12 ngày 18/3/2024 của Công an thành phố B, tiến hành kiểm tra hành chính đối tượng: Võ Thanh L1 đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72G1-395.32 chở theo Nguyễn Hoàng Thiên P lưu thông trên đường T, khu phố F, phường P, thành phố B. Quá trình kiểm tra Tổ công tác phát hiện L1 và P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên bàn giao vụ việc cho Công an phường P, thành phố B xử lý.
Đồ vật tài liệu tạm giữ gồm:
- - 01 đoạn ống nhựa màu cam, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt của Võ Thanh L1 và Nguyễn Hoàng Thiên P cất giữ để dụng;
- - 01 điện thoại di động S1 A20, màu xanh đen, số imel 358587107404919 của Võ Thanh L1;
- - 01 điện thoại di động OPPO A71, màu hồng, số imel867760031992713 của Nguyễn Hoàng Thiên P.
Tại cơ quan Công an các đối tượng khai nhận như sau: Khoảng 19 giờ ngày ngày 18/3/2024, L1 và P cùng nhau ngồi uống nước tại quảng trường Bà Rịa. Trong lúc ngồi uống nước, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L1 và P thống nhất, L1 góp 200.000 đồng, P góp 100.000 đồng mua ma túy cùng nhau sử dụng. Sau đó, L1 dùng điện thoại vào mạng xã hội Z nhắn tin cho một người có tài khoản là Chu bia hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý và hẹn L1 đến khu vực đường C thuộc phường L, thành phố B để giao dịch, đồng thời chụp ảnh nơi cất giấu gói ma túy rồi gửi qua cho L1 còn tiền mua ma túy sẽ thanh toán sau. Sau đó, L1 chở P đến địa điểm đã hẹn, chỉ chỗ cho P lấy gói ma túy rồi cùng nhau đi tìm nơi sử dụng. Khi L1 và P đi đến đoạn đường T thuộc khu phố F, phường P, thành phố B thì bị Tổ công tác của Đ1, Công an thành phố B dừng xe kiểm tra hành chính. Lúc này, P cầm gói ma túy vừa mua được ném xuống đường thì bị lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản tạm giữ cùng tang vật.(BL:65).
Qua xét nghiệm, Nguyễn Hoàng Thiên P và Võ Thanh L1 dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hoàng Thiên P và Võ Thanh L1, Cơ quan Công an không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại Kết luận giám định số 213/KL-KTHS-MT ngày 29/3/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh Bà R-Vũng Tàu xác định:
Mẫu gửi giám định có khối lượng 0,1037 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. (BL: 74).
Quá trình điều tra xác minh, xác định người sử dụng tài khoản Zalo Chu B có tên là Trần Thanh T, sinh năm 1992, trú tại 75, Nguyễn Văn N, khu phố D, phường L, thành phố B. Tuy nhiên, T thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 11/6/2024 tại nhà số G N, khu phố D, phường L, thành phố B, Công an phường L, thành phố B bắt quả tang Trần Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đồ vật tài liệu tạm giữ gồm:
- - 02 (hai) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt;
- - 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất rắn màu trắng trong ví da màu đen của T.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI 1: 861599040317090 của Trần Thanh T dùng để liên lạc.
Tại cơ quan Công an, Trần Thanh T khai nhận như sau: T có tên gọi khác là “Chu Bia”, có nơi cư trú tại G, Nguyễn Văn N, khu phố D, phường L, thành phố B nhưng thường vắng mặt tại địa phương. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 18 giờ ngày 10/6/2024, T đến khu vực B, thành phố V gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 02 (hai) gói ma túy đá và 01 (một) gói ma tuý dạng Heroine với giá 500.000VNĐ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cất trong ví da và đi về nhà để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phường L bắt quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thanh T cơ quan Công an không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Kết quả xét nghiệm, Trần Thanh T dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine và H2.
Ngoài ra, T còn khai nhận đã bán 01 (một) gói ma tuý đá với giá 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) cho Võ Thanh L1 vào ngày 18/03/2024, tuy nhiên T không nhớ rõ nguồn gốc số ma tuý bán cho L1 do đâu mà có.
Tiến hành cho Trần Thanh T nhận dạng Võ Thanh L1 qua ảnh, T đã chỉ ra chính xác Võ Thanh L1 là người đã mua 01 (một) gói ma tuý đá đựng trong đoạn ống nhựa màu cam tại đoạn đường C, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 18/3/2024. T khai nhận quá trình mua bán ma túy T và L1 liên lạc với nhau qua điện thoại, T không biết L1 đi cùng ai đến điểm hẹn mua ma túy T.
Tại Kết luận giám định số 360/KL-KTHS-MT ngày 14/6/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh B xác định: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ của Trần Thanh T có khối lượng 0,5065 gam là ma tuý loại Methamphetamine, mẫu chất chất rắn màu trắng có khối lượng 0,0698 gam là ma tuý loại Heroine.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ số 213 ngày 01/4/2024; có dấu mộc đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Hoàng Thị Lan M, Nguyễn Đình Anh M1
- - 01 (một) điện thoại di động có chữ Samsung, màu xanh đen, số IMEI: 358587107404919;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo A71, màu hồng, số IMEI: 867760031992713;
- - 02 (hai) phong bì niêm phong ghi vụ số 360/1 và 360/2 ngày 14/6/2024; có dấu mộc đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Thượng tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Trần Nhật Q.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số ImeI 1: 861599040317090;
- - 01 (một) ví da màu đen.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định chuyển những vật chứng nêu trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Võ Thanh L1, Nguyễn Hoàng Thiên P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo; xác định cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Từ đó đề nghị:
Về hình phạt:
- + Đối với bị cáo T: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Đối với bị cáo L1: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L1 mức án từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Đối với bị cáo P: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P mức án từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
- + Đối với điện thoại di động hiệu S1 đã thu của bị cáo L1, có liên quan đến việc mua bán ma túy nên tịch thu nộp sung quỹ nhà nước.
- + Đối với điện thoại di động hiệu Oppo đã thu của bị cáo P và điện thoại hiệu Realme thu của bị cáo T: Đây là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.
- - Người bào chữa của bị cáo Phúc trình B1 quan điểm bào chữa: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo P. Đồng ý đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét thêm hoàn cảnh của bị cáo, nguyên nhân phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo để áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cụ thể: Sinh ra trong gia đình có bố mẹ ly hôn và đều có gia đình riêng, bị cáo sống cùng với ông bà nội, việc học hành dang dở, phải bươn chải sớm. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ. Bản thân bị cáo cũng có nhân thân tốt, từ trước đến nay đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật nhà nước và địa phương nơi cư trú.
- Ngoài ra, căn cứ Điều 58 Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm thì giữa bị cáo và bị cáo Võ Thanh L1, người bào chữa cho rằng bị cáo L1 giữ vai trò chính khi là người chủ động đề nghị việc góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng, là người trực tiếp liên hệ bị cáo T để mua ma túy còn bị cáo P chỉ đi theo nên tính chất và mức độ tham gia của bị cáo P cũng không đáng kể. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo.
- - Đại diện Viện kiểm sát không đồng ý với đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo P của người bào chữa vì cho rằng các lý do người bào chữa đưa ra là không phù hợp. Về vai trò của bị cáo L1 và bị cáo P, đại diện Viện kiểm sát xác định hai bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, cùng nhau thống nhất góp tiền mua ma túy sử dụng, cùng đi lấy ma túy nên có vai trò ngang nhau. Đối với đề nghị cho bị cáo P được hưởng án treo, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, nếu áp dụng án treo thì hình phạt không đủ sức răn đe nên đề nghị HĐXX cân nhắc.
- - Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo. Không có bị cáo nào có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, mức đề nghị áp dụng hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như xử lý vật chứng. Lời nói sau cùng, các bị cáo bày tỏ sự ăn năn hối cải và đều xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng hình phạt khoan hồng.
- - Người đại diện hợp pháp của bị cáo P là ông Nguyễn Hoàng V đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa đưa ra; thừa nhận trong sự việc để xảy ra hậu quả như hôm nay có phần trách nhiệm của gia đình và bản thân ông là người cha đã không sát sao con cái. Gia đình cam kết sẽ dành nhiều thời gian để quan tâm, dạy bảo con, mong HĐXX xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng hình phạt án treo để bị cáo và gia đình có cơ hội để sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra là thống nhất, hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 18/3/2024, Võ Thanh L1 và Nguyễn Hoàng Thiên P bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ 0,1037 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Số ma túy này được xác định do Trần Thanh T bán cho bị cáo Võ Thanh L1 vào khoảng 20 giờ cùng ngày tại khu vực đường C thuộc phường L, thành phố B với giá 300.000 đồng.
Ngoài ra, khoảng 05 giờ 30 ngày 11/6/2024, tại nhà số G N, khu phố D, phường L, thành phố B, Trần Thanh T còn bị bắt quả tang đang có hành vi tàng
trữ 0,5065 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,0698 gam ma túy loại heroin nhằm mục đích sử dụng.
Các bị cáo đều thực hiện với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo Trần Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Võ Thanh L1, Nguyễn Hoàng Thiên P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, hành vi bán ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T là độc lập, không có yếu tố đồng phạm. Còn giữa bị cáo L1 và bị cáo P có sự thống nhất ý chí về việc góp tiền mua ma túy sử dụng, cùng nhau thực hiện. Mặc dù bị cáo L1 là người trực tiếp liên hệ với bị cáo T để mua ma túy nhưng bị cáo P hoàn toàn biết nguồn gốc số ma túy thể hiện tại các bản tự khai/bản tường trình do chính bị cáo viết (BLĐT số 113 – 118), chủ động góp tiền và sau đó cùng nhau đến điểm hẹn để lấy ma túy về sử dụng. Do đó, vai trò của các bị cáo là ngang nhau. Tuy nhiên, giữa bị cáo P và bị cáo L1 không có sự bàn bạc lên kế hoạch cụ thể, không có sự phân công nhiệm vụ nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ nhận thức để biết rõ ma túy là chất độc hại; mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật xử lý rất nghiêm khắc nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên các bị cáo bất chấp thực hiện.
Ngoại trừ bị cáo P có nhân thân tốt, bị cáo T đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy; bị cáo L1 từng phạm tội và bị xử phạt bằng hình phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học, chăm lo làm ăn, tu thân dưỡng tính mà lại dính vào con đường nghiện ngập. Trường hợp của bị cáo L1 và bị cáo P, tuy trước đó cả hai bị cáo đều đã từng sử dụng ma túy nhiều lần nhưng bị cáo L1 là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ hơn nhưng không can ngăn, khuyên nhủ đối với bị cáo P mà còn thống nhất ý chí, hành động, cùng với P mua ma túy về sử dụng. Do đó, cần có một mức án, hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cho từng bị cáo để bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do tại thời điểm phạm tội, bị cáo đã bị xử phạt về một hành vi phạm tội trước đó và chưa hết thời hạn để xóa án tích mà tiếp tục phạm tội.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái nên được áp dụng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho các bị cáo một phần mức án.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Thiên P: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh thiệt thòi hơn các bạn cùng trang lứa khi bố mẹ của bị cáo ly hôn, bị cáo chủ yếu sống cùng ông bà nội; bị cáo nghỉ học sớm nên cơ hội được trang bị các kỹ năng sống, tiếp cận các kiến thức về pháp luật không được đầy đủ. Tuy đây không phải là một tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng cũng là một yếu tố để Hội đồng xét xử cân nhắc, đánh giá. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên quy định tại Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng:
- - Đối với các phong bì đang được niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy qua giám định là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với ĐTDĐ hiệu S1 đã thu giữ của bị cáo L1, có chứa các tin nhắn zalo chứng minh hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Oppo thu của bị cáo P và 01 ĐTDĐ hiệu Realme thu của bị cáo T, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.
- - Đối với 01 ví da đã cũ đã thu của bị cáo T, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
- - Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Bị cáo Võ Thanh L1, Nguyễn Hoàng Thiên P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Trần Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 02 (năm) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (11/6/2024).
1.2 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Thanh L1 18 (mười tám) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (20/4/2024).
1.3 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thiên P 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ số 213 ngày 01/4/2024 do Phòng K Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu, có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Giám định viên Hoàng Thị Lan M, Nguyễn Đình Anh M1.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì niêm phong lần lượt ghi vụ số 360/1, 360/2 ngày 14/6/2024 do Phòng K Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu, có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Giám định viên Hoàng Thị Lan M, Trần Nhật Q.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Thiên P 01 (một) điện thoại di động hiệu oppo A71, màu hồng.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme và 01 (một) ví da màu đen.
(Thực hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 09 ngày 11/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo Nguyễn Hoàng Thiên P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (29/11/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thanh Tâm |
Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự
- Số bản án: 161/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 18/3/2024, Võ Thanh L1 và Nguyễn Hoàng Thiên P bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ 0,1037 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Số ma túy này được xác định do Trần Thanh T bán cho bị cáo Võ Thanh L1 vào khoảng 20 giờ cùng ngày tại khu vực đường C thuộc phường L, thành phố B với giá 300.000 đồng. Ngoài ra, khoảng 05 giờ 30 ngày 11/6/2024, tại nhà số G N, khu phố D, phường L, thành phố B, Trần Thanh T còn bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ 0,5065 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,0698 gam ma túy loại heroin nhằm mục đích sử dụng.
