Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Thế Phương

Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lê Thị Hồng Anh

Bà Phan Thị Ngọc Hiền

Bà Trần Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Cao - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 172/2024/TLST-HS ngày 17/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HS ngày 29/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Trung K, sinh ngày 11/9/1993 tại tỉnh Đồng Nai.

CCCD số : 0750993022060, nơi cấp : Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi đăng ký thường trú: 540/2, tổ A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha Vũ Văn Đ - sinh năm 1962, mẹ Hoàng Thị N - sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/11/2012, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 758/HSST. Bị cáo chấp hành án xong ngày 07/4/2015 tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ và đã đóng án phí.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/9/2021, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 1086 ngày 24/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 08/6/2022, H bỏ biện pháp tạm giam và Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo Quyết định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà. Ngày 14/12/2023, bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 1952 ngày 13/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ.

Người bào chữa cho bị cáo theo quy định: Luật sư Nguyễn Ngọc Đ1 – Văn phòng Luật sư Đoàn N số A, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

  • * Bị hại: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1997.
  • Địa chỉ: E, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1966.
  • Địa chỉ: 5, tổ A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • * Người làm chứng:
    1. Ông Bùi Trung K1, sinh năm 1958.
    2. Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
    3. Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1954.
    4. Địa chỉ: E, Tổ A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
    5. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1975.
    6. Địa chỉ: E, Tổ A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo; Luật sư bào chữa cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhân chứng Nguyễn Đức H1 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Vũ Trung K là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 17/9/2021, K cầm một cây giáo tự chế bằng sắt, dạng hình tròn, 01 đầu nhọn, dài 1m80 đứng ở đầu đường gần nhà. Khi thấy anh Phạm Văn T, sinh năm 1997, nơi thường trú: 542C/2, khu phố H, phường T, thành phố B một mình điều khiển xe mô tô biển số 60C1-837.14 lưu thông trên đường đi vào hẻm nhà. Do bị ảo giác nên K cầm cây giáo tự chế mang theo chạy ra đâm một nhát vào vùng bụng bên phải anh T. Khi bị đâm, anh T nhảy xuống xe bỏ chạy, K tiếp tục cầm cây giáo đuổi theo và đâm một nhát trúng vào vùng đùi bên phải của anh T. Lúc này, anh T giằng co, giật được cây giáo trên tay của K thì K bỏ chạy. Sau đó, anh T được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Trung K đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Quá trình điều tra xác định tại thời điểm gây án, K bị rối loạn thần do sử dụng chất kích thích. Việc K sử dụng ma túy và dùng hung khí nguy hiểm đâm vào bụng anh Phạm Văn T là vùng trọng yếu trên cơ thể và tấn công quyết liệt, gây thương tích cho anh T 50%, anh T không chết là được cấp cứu kịp thời và nằm ngoài ý muốn chủ quan của K. Do đó, K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” thuộc trường hợp chưa đạt.

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • +Tổn thương thủng ruột non 02 lỗ phải phẫu thuật khâu ruột non. Tỷ lệ 30%.
  • +Tổn thương đứt mạch máu mạc treo đại tràng phải đã phẫu thuật khâu cầm máu mạc treo. Tỷ lệ 21%.
  • +Vết thương hố chậu phải kích thước 03x0,2 cm. Tỷ lệ 01%.
  • +Vết mổ đường trắng giữa trên dưới rốn kích thước 15x0,2 cm. Tỷ lệ 02%.
  • +Vết mổ dẫn lưu hố chậu phải kích thước 01x01 cm. Tỷ lệ 02%.
  • +Vết thương đùi phải kích thước 02x0,2cm. Tỷ lệ 01%.
  • +Vết thương kèm vết mổ mở rộng đùi phải kích thước 08x0,2 cm. Tỷ lệ 02%.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, tỷ lệ tổ thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phạm Văn T là 49%.

Kết luận khác:

  • +Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
  • +Đề nghị Cơ quan CSĐT công an T trưng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định để đánh giá di chứng vết thương đùi phải và định tỷ lệ cho vết mổ còn ống dẫn lưu ở hố chậu phải.

-Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0819/TgT/2021 ngày 22/11/2021 của Trung tâm P kết luận tỷ lệ thương tích bổ sung của Phạm Văn T như sau:

Phần giám định bổ sung: Vết mổ lưu hố chậu phải liền sẹo kích thước 1,5x0,4 cm. Tỷ lệ 01%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phạm Văn T là 50%.

-Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 296/KL-VPYTW ngày 02/6/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B kết luận:

Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị Rối loạn thần do sử dụng chất kích thích (F15.5-ICD.10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

- Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số: 951/KLBB-VPYTW ngày 11/12/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B kết luận: Bị bệnh rối loạn thần do sử dụng chất kích thích (F15.5-ICD.10); Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với Cơ quan pháp luật.

-Tại bản Kết luận giám định số: 0354/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 19/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương của anh Phạm Văn T thuộc loại cấp cứu khẩn cấp có thể ảnh hưởng đến tính mạng ngay lập tức nếu không thực hiện cấp cứu tích cực.

- Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) cây giáo tự chế bằng sắt, dạng hình tròn, một đầu nhọn dài 1,8m do bị can sử dụng vào việc phạm tội.
  • + 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình khi Cơ quan điều tra làm việc với bị can (Lưu hồ sơ vụ án).

- Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị N là mẹ của bị can Vũ Trung K đã bồi thường cho bị hại Phạm Văn T tiền viện phí, thuốc men, tổn thất tinh thần tổng số tiền 150.000.000 đồng, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

2. Truy tố: Cáo trạng số: 155/CT-VKS-P2 ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Trung K về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự.

3. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến gì.

4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

  • 4.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Trung K về tội “Giết người”.
  • 4.2. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • 4.3. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, có đơn bãi nại của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • 4.4. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Trung K mức án từ 10 đến 12 năm tù về tội “Giết người”.
  • 4.5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị xử lý theo quy định.

4.6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

5. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Trung K theo quy định của pháp luật trình bày tại bài bào chữa:

Hành vi của bị cáo theo Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố, Luật sư không có ý kiến tranh luận.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định của pháp luật hình sự, xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành thật khai báo, bị cáo được xác định không có tiền án, được bị hại bãi nại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng. Từ trình bày trên đề nghị Hội đồng xét xử công tâm xem xét cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi sai phạm của bị cáo, mang tính giáo dục hơn là hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, hành vi của bị cáo trong vụ án này được xem xét đánh giá toàn diện trong mối quan hệ với chứng cứ khác để xác định đúng bản chất của vụ án, phù hợp với hành vi của bị cáo thực hiện mà Kết luận điều tra cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã mô tả.

[2.2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 17/9/2021, tại trước nhà số A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Vũ Trung K sử dụng ma túy nên bị ảo giác và nghĩ anh Phạm Văn T là người hại mình nên đã sử dụng 01 cây giáo tự chế truy đuổi, đâm 02 nhát vào người anh Phạm Văn T, trong đó có 01 nhát vào vùng bụng, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 50%. Việc bị cáo dùng cây giáo là hung khí nguy hiểm đâm vào bụng của nạn nhân là vùng trọng yếu trên cơ thể, có thể gây ra cái chết cho anh Phạm Văn T nếu không được cấp cứu kịp thời. Việc anh T không chết là nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của bị cáo.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Trung K đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[2.3] Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm.

[3] Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại, được bị hại bãi nại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo chưa đạt nên được xem xét theo quy định tại Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình khi Cơ quan điều tra làm việc với bị cáo.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây giáo tự chế bằng sắt, dạng hình tròn, một đầu nhọn dài 1,8m.

[7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Vũ Trung K phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Vũ Trung K 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023, nhưng được tính trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 18/9/2021 đến ngày 08/6/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình khi Cơ quan điều tra làm việc với bị cáo.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây giáo tự chế bằng sắt, dạng hình tròn, một đầu nhọn dài 1,8m.

(Các vật chứng xử lý trên theo biên bản về việc giao vật chứng, tài sản ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan điều tra P1 – Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)

3. Về án phí: Bị cáo Vũ Trung K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Đồng Nai;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tội giết người)

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đang ngáo ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger