Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS - ST

Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Minh Thân

2. Ông Nguyễn Việt Chiến

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 124/2024/HSST ngày 10 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST – HS ngày 16/05/2024 đối với các bị cáo:

1.Nguyễn Thị Yến S năm 1993; Tên gọi khác: Không Nơi thường trú: thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc Tịch Việt Nam. Dân tộc kinh tôn giáo không. Trình độ văn hóa: 12/12 Đảng phái chính trị: Đảng viên (đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 127 /QĐ/UBKT ngày 15/5/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc); Con ông: Nguyễn Văn T. Con bà: Dương Thị Lệ H. Chồng: Nguyễn Văn D. Con: Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Tại ngoại. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Trần Thị D1 sinh năm 1993. Nơi thường trú: Thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Quốc tịch Việt Nam. Dân tộc Kinh, Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: lao động tự do Trình độ văn hóa 12/12. Con ông Trần Trung L. Con bà Vũ Thị Y. Tiền án tiền sự: Không. Tại ngoại. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 40 phút ngày 27/9/2023, tại Trường đại học H2 địa chỉ tại K N, phường T, quận N, Hà Nội, Phòng an ninh chính trị nội bộ - Công an thành phố H được giao nhiệm vụ giám sát kỳ thi đánh giá năng lực cấp chứng chỉ tiếng Anh tại Trường Đại học H2 phát hiện trường hợp Trần Thị D1 sử dụng thẻ Căn cước công dân nghi là giả để thi hộ cho Nguyễn Thị Y1 Cán bộ Phòng An ninh chính trị nội bộ - Công an thành phố H đã tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng và chuyển vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N để giải quyết.

Vật chứng thu giữ:

  • + Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Y1 cấp ngày 07/9/2021;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu đen, số seri JMCF47HJT9 thu giữ của Trần Thị D1;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7Z7G, kiểm máy CPH2343, màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Y1;

Tại bản kết luận giám định số 7886/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của V - Bộ C kết luận:

“Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Y1 ngày 07/9/2021 cần giám định (ký hiệu A) là Căn cước công dân giả”

Quá trình điều tra xác định:

Ngày 09/10/2023, Nguyễn Thị Y1 đăng ký dự thi tiếng anh (chứng chỉ B2) tổ chức ngày 17/10/2023 tại trường Đại học H2 thuộc phường T, quận N, Hà Nội. Do nhận thấy mình không đủ khả năng thi đỗ trong kỳ thi này nên Y1 đã liên hệ với Trần Thị D1 qua ứng dụng Zalo nhờ D1 đi thi hộ, D1 đồng ý. Chiều ngày 15/10/2023, Y1 gặp D1 tại quán C1 địa chỉ tại số A, đường N để bàn bạc về việc thi hộ. Do thủ tục thi cần xuất trình căn cước công dân nên Y1 nói với D1 đã lên mạng xã hội Facebok tìm hiểu và liên hệ với 01 đối tượng sử dụng tài khoản Z “Lê Hữu T1” đăng ký bằng số điện thoại 0862.453.xxx thuê làm giả 01 căn cước công dân giả số [...] với thông tin cá nhân của Y1 và ảnh là của Trần Thị D1 để phục vụ việc thi hộ. Sau đó, Y1 liên lạc với đối tượng T1 và thỏa thuận mức giá làm căn cước công dân giả là 1.500.000 đồng. Y1 yêu cầu D1 gửi cho mình 01 ảnh 3 x 4cm của Dịu qua ứng dụng Zalo để thực hiện việc làm căn cước giả. Sau khi nhận được ảnh từ Dịu, Y1 gửi ảnh chụp căn cước công dân của mình và gửi kèm ảnh của D1 đến tài khoản Zalo của đối tượng T1. Đến tối ngày 15/10/2023, sau khi được đối tượng thông báo đã làm xong, Y1 gửi ảnh căn cước công dân giả này cho D1 kiểm tra và yêu cầu đối tượng gửi căn cước giả đến địa chỉ công ty của D1 tại Tòa nhà R, đường T, phường T, N, Hà Nội. Sau đó, Y1 đã thanh toán số tiền 1.500.000 đồng cho đối tượng thông qua việc chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng A số 2801205097389 đến số tài khoản ngân hàng T2 19071889044018 mang tên Nguyen Chi D2 (theo yêu cầu của đối tượng). Khoảng 13 giờ ngày 16/10/2023, D1 nhận được căn cước công dân giả của một người giao hàng (D1 không biết tên tuổi, địa chỉ và không nhớ số điện thoại đã liên lạc). Đến sáng ngày 17/10/2023, D1 sử dụng căn cước công dân giả để tham gia thi chứng chỉ tiếng anh tại phòng thi 210A1 Trường đại học H2 thì bị Hội đồng thi trường Đại học H2 phối hợp cùng Phòng An ninh chính trị nội bộ - Công an thành phố H phát hiện và lập biên bản.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Y1 và Trần Thị D1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với tài khoản zalo “Lê Hữu T1” đăng ký bằng số điện thoại 0862.453.xxx là người làm căn cước công dân giả cho Nguyễn Thị Y1: Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định số điện thoại 0862.453.xxx đăng ký chủ thuê bao là bà Vũ Thị H1 (sinh năm 1959, HKTT tại 117G5 CT3, A6 tổ A5, A6, phường Q, quận H, Hải Phòng). Tuy nhiên, bà H1 không có mặt tại địa phường, chính quyền địa phương không biết bà H1 đi đâu, làm gì. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến tài khoản zalo “Lê Hữu T1” đăng ký bằng số điện thoại 0862.453.xxx để điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với tài khoản ngân hàng T2 19071889044018 mang tên Nguyen Chi D2 là tài khoản nhận tiền làm căn cước công dân giả: Quá trình điều tra xác định: Chủ tài khoản là anh Nguyễn Chí D3 (sinh năm 1992, HKTT tại tổ A N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, qua xác minh anh D3 không có mặt tại địa phường, chính quyền địa phường không biết anh D3 đi đâu, làm gì. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến tài khoản ngân hàng T2 19071889044018 mang tên Nguyen Chi D2 để điều tra làm rõ và xử lý sau.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Thị Y1 và Trần Thị D1 phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.

Tại Cáo trạng số 117/CT – VKSNTL ngày 25/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội truy tố ra trước Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm để xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Y1, Trần Thị D1 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị

:

  • + Áp dụng: khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1,2 điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điểm a,c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  • + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Y1 từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thửa thách 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: Trần Thị D1 từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu đen, số seri JMCF47HJT9 thu giữ của Trần Thị D1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7Z5G, kiểm máy CPH2343, màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Y1.

Các bị cáo Nguyễn Thị Y1, Trần Thị D1 khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Y1, Trần Thị D1 khai nhận: Ngày 15/10/2023, Nguyễn Thị Y1 và Trần Thị D1 đã bàn bạc, thống nhất sử dụng căn cước công dân giả mang tên Nguyễn Thị Y1 (ảnh của D1) để Dịu thực hiện việc thi hộ chứng chỉ tiếng Anh B2 cho Y1. Dịu đã cung cấp 01 ảnh chân dung của mình cho Y1, sau đó Y1 đã liên lạc với tài khoản zalo “Lê Hữu T1” đặt làm 01 căn cước công dân giả với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, D1 đã sử dụng căn cước công dân giả để thi hộ chứng chỉ tiếng Anh cho Y1 vào ngày 17/10/2023 tại trường đại học H2, phường T, quận N, Hà Nội thì bị Phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an thành phố H phát hiện.

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Y1, Trần Thị D1 đủ yếu tố cầu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước, tổ chức và xâm phạm sự hoạt động bình thường, uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Do vậy, cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo. Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn.

[4] Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Y1 là người đứng đầu vụ án, bị cáo có nhu cầu thi chứng chỉ tiếng Anh B2 nên đã trực tiếp liên hệ đối tượng làm giả căn cước công dân, đưa căn cước công dân giả cho bị cáo D1 để bị cáo D1 sử dụng tham dự kỳ thi. Trần Thị D1 nhận thức việc sử dụng tài liệu giả là căn cước công dân để tham gia kỳ thi là vi phạm pháp luật nhưng do nể nang nên đã đưa ảnh của mình cho bị cáo Y1 để làm căn cước công dân giả, sử dụng căn cước công dân giả để thi hộ thay bị cáo Y1. Do vậy, vai trò của bị cáo D1 đứng sau bị cáo Y1. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Y1 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V tặng thưởng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác hiến máu tình nguyện năm 2018, được ủy ban nhân dân xã H tặng Giấy khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác đoàn và Phong trào thanh thiếu niên năm 2015 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần xem xét cho các bị cáo cải tại tại địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội theo quy định tại điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự.

[5] Về vật chứng: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 căn cước công dân giả số [...] mang tên Nguyễn Thị Y1 cấp ngày 07/9/2021. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số seri JMCF47HJT9 (thu giữ của Trần Thị D1). 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Renno 7Z5G, kiểu máy CPH2343, màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Y1 được sử dụng trong quá trình phạm tội.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Y1, Trần Thị D1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"

1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; Điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Y1 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Y1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Trần thị D4 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Thị D1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 1 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, số seri JMCF47HJT9 (thu giữ của Trần Thị D1). 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO Renno 7Z5G, kiểu máy CPH2343, màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Y1.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 208 ngày 28/05/2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.)

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Bị cáo
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm +HN
  • - TAND Tp Hà Nội
  • - Công an quận Nam Từ Liêm
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm
  • - Lưu hồ sơ + văn phòng Toà án.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

LÊ THỊ KHANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS - ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 161/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị Y1, Trần Thị D1 phạm tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger