Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-ST

Ngày: 10/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được

Ông Đỗ Văn Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng– Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2024/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 và thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 20/2024/TB-TA ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn C, T gọi khác: không, sinh năm 1985 tại Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị P, sinh năm 1989 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 29/12/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, (bản án số 76/2005/HSST), bị cáo đã đóng án phí ngày 02/01/2006.
  • - Ngày 20/09/2016 bị Công an phường T, thành phố Đ xử phạt 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13/10/2016 đóng phạt.
  • - Ngày 17/01/2020, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. C chưa đóng phạt, đã hết thời hiệu.
  • - Ngày 24/03/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, (bản án số 20/2020/HSST), ngày 11/10/2020 chấp hành xong án phạt tù, ngày 29/5/2020 đóng án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/07/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Hoàng Thị Thanh T1, sinh năm 1991; Trú tại: Tổ dân phố Q, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị P, sinh năm 1989; Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thời gian vào các ngày 02/12/2018 và ngày 04/12/2018, Trần Văn C do không có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, C đưa ra thông tin gian dối, nhằm chiếm đoạt tiền của chị Hoàng Thị Thanh T1 cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/11/2018, tại quán cà phê “G" thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước Trần Văn C gặp và làm quen với chị Hoàng Thị Thanh T1.

Đến ngày 01/12/2018, C rủ chị T1 đi uống cà phê tại đường V, thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Lúc này do không có tiền tiêu xài nên C nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T1, C nói với chị T1 “C đang chuẩn bị mua cây sưa giá 750.000.000 đồng, nếu mua thì có thể bán được 1.400.000.000 đồng, nói chị T1 góp 50.000.000 đồng để mua cây sưa, khi bán được C trả cho chị T1 50.000.000 đồng tiền gốc và chia tiền lời 350.000.000 thì chị T1 đồng ý góp tiền mua cây sưa và hẹn C ngày 02/12/2018 đến phòng trọ của chị T1 để lấy tiền. Đến sáng ngày 02/12/2018, C đi taxi đến phòng trọ của chị T1 tại khu phố P, phường T, thành phố Đ lấy 50.000.000 đồng, khi chị T1 đưa tiền C không mua cây sưa mà tiêu xài cá nhân hết,

- Lần thứ hai: Ngày 03/12/2018, C cùng chị T1 đến quán “Chinh H", thuộc phường T, thành phố Đ để ăn uống. Tại quán “Chinh Hải S” C nói “có cây sưa mua với giá 70.000.000 đồng có thể bán lại được 120.000.000 đồng, C nói chị T1 góp 20.000.000 đồng để mua cây, khi bán được C sẽ chia cho chị T1 50.000.000 đồng tiền lời và 20.000.000 đồng tiền gốc”. Chị T1 đồng ý và hẹn sáng ngày 04/12/2018 đến phòng trọ chị T1 lấy tiền. Đến sáng ngày 04/12/2018, tại quán cà phê (không có tên) trên đường V thuộc phường T, thành phố Đ, chị T1 đưa cho C 20.000.000 đồng. Sau khi nhận 20.000.000đồng C không mua cây sưa mà tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, chị T1 đã nhiều lần liên lạc yêu cầu C trả lại tiền, C không có tiền trả lại cho chị T1 và bỏ đi khỏi địa phương (bút lục 100 đến 116, 117 đến 125).

Đến ngày 12/12/2018, chị T1 đến Công an phường T trình báo sự việc.

Ngày 18/7/2024, Trần Văn C đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đầu thú.

Tại bản Cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn C mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và đang bị tạm giam nên đề nghị không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo Trần Văn C tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 02/12/2018 và ngày 04/12/2018 Trần Văn C đưa ra thông tin gian dối để chị Hoàng Thị Thanh T1, trú tại khu phố P, phương T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước góp tiền 02 lần với tổng số tiền 70.000.000 đồng mua cây sưa để bán kiếm tiền lời. Sau khi nhận 70.000.000 đồng từ chị T1, C không mua cây sưa mà lấy tiền tiêu xài vào mục đích cá nhân hết, không còn khả năng trả lại cho chị T1 nên bỏ trốn, đi khỏi địa phương.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích để có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, tài sản bị cáo chiếm đoạt là số tiền 70.000.000đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chiếm đoạt tài sản của chị T1 hai lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị các Tòa án xử bằng hình phạt tù, Cơ quan Công an xử phạt vi phạm hành chính về tội trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, gia đình của bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  3. Về hình phạt:
  4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 7 năm 2024.

  5. Về án phí sơ thẩm:
  6. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trần Văn C1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS thành phố Đồng Xoài;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - CA thành phố Đồng Xoài;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 161/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger