Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HS-PT

Ngày: 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn

Ông Trần Bá Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2024/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Nguyễn Gia H, sinh ngày 24/4/2000 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Công H1, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Đức Thu H2, sinh năm: 1977; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Hoài Đ, sinh ngày 17/4/1996 tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: Số nhà A đường D, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: Số nhà A, đường D, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hoài N (chết) và bà Nguyễn Đức Xuân H3, sinh năm: 1967; Vợ: Lâm Kim T, sinh năm 1996, con: có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Thới Gia V và Lê Nguyễn Gia H có quan hệ quen biết với nhau. Thới Gia V có nợ Lê Nguyễn Gia H số tiền 28.000.000 đồng, H đã đòi nhiều lần nhưng V không trả. Khoảng 01 giờ 00 phút sáng ngày 18/7/2023, V thấy sự việc H đăng hình ảnh của mình cùng mẹ ruột là Lương Thị Ngọc S lên mạng xã hội Facebook để đòi nợ nên bực tức, gọi điện hẹn gặp H để nói chuyện. Cả hai hẹn gặp nhau tại trước nhà Ngoại của H ở số nhà A, đường D, phường N, thành phố Q. Sợ bị H gọi người đánh nên V đã giấu 01 con dao dài khoảng 60cm bỏ vào cốp xe mô-tô biển số 77L1-663.48 của bạn gái là Phạm Khánh N2 để phòng thân rồi đi đến chỗ hẹn ngồi trên xe mô-tô đợi. H nhờ anh họ là Nguyễn Hoài Đ chở đến địa điểm đã hẹn V.

Khi gặp V, H hỏi lý do sao nợ tiền không trả mà bỏ trốn thì V không trả lời được nên bị H dùng tay đánh nhiều cái vào mặt và hăm dọa nếu không trả nợ sẽ tiếp tục đăng hình V lên mạng xã hội Facebook đến khi nào chịu trả tiền mới thôi. Bực tức vì bị H đánh nên V chạy đến mở cốp xe mô-tô biển số 77L1- 663.48 lấy ra con dao để đánh lại H thì Đ can ngăn, lấy con dao vứt đi chỗ khác. Đ nói V "Nợ thì phải trả chứ sao lại trốn tránh" thì V nói "Đi làm có tiền sẽ trả" nhưng H không đồng ý vì V đã thất hứa nhiều lần và sợ V sẽ đi chấp hành án phạt tù nên H bảo V phải viết giấy nợ, V đồng ý. H đi vào nhà Đ tại số nhà A, đường D lấy bút và 01 quyển vở (loại kẻ 4 ly ngang, 200 trang, hiệu Campus) rồi nhờ Đ hướng dẫn V viết giấy nợ với số tiền 28.000.000 đồng. V xin bớt, chỉ viết nợ 20.000.000 đồng. H nói sẽ cho V 5.000.000 đồng, còn lại phải viết nợ 23.000.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe mô-tô đi công việc, nhờ Đ ở lại chờ V viết giấy nợ xong. Khi viết vào giấy nợ, V không viết 23.000.000 đồng mà chỉ viết 20.000.000 đồng. Đ thấy vậy nên nói V nếu muốn viết nợ 20.000.000 đồng thì để Đ đánh sáu cái trừ số tiền 3.000.000 đồng. V đồng ý nhưng khi Đ mới đánh 01 cái thì V không chịu đau được nên chấp nhận viết thêm số tiền 2.500.000 đồng vào giấy nợ. Đ vào nhà lấy 01 hộp mực màu đỏ (hiệu Horse) đưa V lăn 05 ngón tay vào rồi bắt V cầm giấy nợ giơ lên trước ngực để Đ chụp hình, quay video lại đưa cho H với mục đích nếu V không trả nợ sẽ sử dụng hình ảnh để đăng lên mạng xã hội Facebook.

Khoảng 20 phút sau, H quay lại thì thấy Đ đang cầm giấy nợ do V viết, đồng thời thấy bạn gái V là Phạm Khánh N2 đang điều khiển xe mô-tô biển số 77L1- 125.42 đến (xe hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, chủ sở hữu là Lương Minh K1 - cậu ruột cho Nguyễn M sử dụng), nên H bắt V phải để lại xe mô tô biển số 77L1-125.42 làm tin, khi nào trả được nợ thì lấy xe về. V sợ bị H, Đ đăng hình ảnh, video mình cầm giấy nợ lên mạng xã hội Facebook nên không dám phản kháng, miễn cưỡng để lại xe mô tô biển số 77L1 -125.42 cho H, Đ giữ. Đ bắt V ngồi lên xe mô tô biển số 77L1-125.42, cầm giấy nợ giơ lên trước ngực để Đ tiếp tục chụp hình rồi gửi qua cho H lưu giữ. Sau đó, H dắt xe mô-tô biển số 77L1- 125.42 vào nhà số A, đường D thì gặp cậu ruột là Nguyễn Đức A nên nói "cho con gửi chiếc xe" rồi để xe lại tại đây. V điều khiển xe mô-tô biển số 77L1-663.48 chở N2 đi về. Khoảng vài ngày sau, V nhắn tin năn nỉ H trả lại xe mô-tô biển số 77L1- 125.42 để đi làm kiếm tiền trả nợ nhưng H, Đ không đồng ý và nói nếu không trả tiền thì đừng có nghĩ đến việc lấy xe. Đến ngày 17-8-2023, V vẫn chưa có tiền trả nợ nên H tiếp tục đăng hình ảnh của V đang cầm giấy nợ và mẹ V lên mạng xã hội Facebook nên Nguyễn trình B sự việc cho Công an phường N

Ngày 23-9-2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô-tô biển số 77L1-125.42 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã thu giữ: 01 xe mô tô biển số 77L1-125.42, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, số máy: SC64-550302, số khung: 640BY-550289; 01 quyển vở kẻ 4 ly ngang, loại 200 trang, hiệu Campus, kích thước (17,9 x 25,2)cm; 01 hộp mực màu đỏ, hiệu Horse, vỏ bằng kim loại hình chữ nhật, kích thước (7 x 11)cm; 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video có thời lượng 14 giây quay lại cảnh Thới Gia V đang cầm giấy nợ (lưu vào hồ sơ vụ án). Ngày 08-11-2023, Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô-tô biển số 77L1-125.42 cho chủ sở hữu Lương Minh K1.

Bị hại Thới Gia V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lương Minh K1 không yêu cầu bồi thường dân sự. Thới Gia V có đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2024/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Nguyễn Gia H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Trong hạn luật định, các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2024/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ đều khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau: Xuất phát từ việc Thới Gia V nợ 28.000.000 đồng của Lê Nguyễn Gia H nhưng không trả nên vào rạng sáng ngày 18/7/2023, Lê Nguyễn Gia H và Nguyễn Hoài Đ đã có hành vi dùng điện thoại di động quay phim, chụp hình bị hại V cầm giấy nợ, đe dọa sẽ đăng lên mạng xã hội Facebook nhằm uy hiếp tinh thần buộc Nguyễn phải miễn cưỡng giao xe mô-tô biển số 77L1-125.42, trị giá 7.000.000 đồng cho H, Đ chiếm đoạt. Do đó, Toà án nhân dân thành phố Q đã kết án các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật.
  2. [2] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ, hội đồng xét xử nhận thấy: Vụ án chỉ mang tính đồng phạm giản đơn, bị cáo Lê Nguyễn Gia H là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Hoài Đ cùng thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo H giữ vai trò chính, bị cáo Đ đồng phạm giúp sức cho bị cáo H nên có vai trò thấp hơn. Xét nhân thân của các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H khi phạm tội đang mang thai được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; hơn nữa bị cáo là mẹ đơn thân hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo Đ giúp sức với vai trò không đáng kể, cha bị cáo là thương binh, mẹ già yếu, bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình nên áp dụng thêm cho các bị cáo Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình phạt tù cho các bị cáo H, Đ cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân tốt. Từ những nhận định trên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo; Sửa bản án hình sự sơ thẩm.
  3. [3] Về án phí: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. [4] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. [5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ.
    • - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2024/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ.
  2. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Gia H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Đ 09 (Chín) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. 3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lê Nguyễn Gia H, Nguyễn Hoài Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1.TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TA, VKS, CQĐT Công an Tp. Q;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp. Q;
  • - Chi cục THADS Tp. Q;
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về cưỡng đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 161/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Nguyễn Gia H cùng đồng phạm phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger