|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 161/2024/HNGĐ-ST. Ngày 29 - 11 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Quang Vinh;
- Ông Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không có tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 374/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2024; về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, biên bản phiên họp – hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị và anh Ngô Văn Đ có thời gia tự tìm hiểu quen biết vào năm 2003, sau đó thì anh chị kết hôn với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc và có với nhau được 02 người con, nhưng đến tháng 03/2024 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cãi, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tình cảm vợ chồng nên chị đã sống ly thân với anh Đại từ đó cho đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người cần có cuộc sống riêng nên chị yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn Đ theo quy định.
Về con chung: Có 02 con chung tên Ngô Thanh V1, sinh năm 2004 và Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010. Hiện nay, cháu Ngô Thanh V1 đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh số được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010 chị thống nhất giao cho anh Ngô Văn Đ được quyền tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị khỏi phải cấp dưỡng nuôi con do không có điều kiện.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị tự thỏa thuận không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản phiên họp – hòa giải bị đơn anh Ngô Văn Đ trình bày: Anh và chị V có thời gia tự tìm hiểu quen biết vào năm 2003, sau đó thì anh chị kết hôn với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc và có với nhau được 02 người con, nhưng đến tháng 03/2024 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cãi, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống không thể tiếp tục hòa hợp với nhau được, không còn tình cảm vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay; nay anh thống nhất ly hôn với chị Nguyễn Thị V theo quy định.
Về con chung: Có 02 con chung tên Ngô Thanh V1, sinh năm 2004 và Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010. Hiện nay, cháu Ngô Thanh V1 đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh sống được nên anh không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010 anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh không có yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh tự thỏa thuận không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ làm phát sinh “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” được quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật; về thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ có mặt theo thông báo mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải của Tòa án theo quy định; đồng thời, tại buổi hòa giải anh chị đều thống nhất giải quyết ly hôn theo quy định, nhưng do hoàn cảnh anh chị khó khăn đang đi làm thuê ở xa, nên anh chị đã làm đơn xin được vắng mặt tại các phiên tòa theo quy định.
Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định, nay chị Nguyễn Thị V yêu cầu ly hôn và anh Ngô Văn Đ thống nhất ly hôn, nên làm phát sinh tranh chấp ly hôn.
Xét việc chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn, là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch; việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”
Vì vậy, căn cứ vào quy định trên không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ là phù hợp theo quy định pháp luật.
[4] Về con chung: chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ có 02 người con là cháu Ngô Thanh V1, sinh năm 2004 và Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010. Hiện nay, cháu Ngô Thanh V1 đã trên 18 tuổi, có cuộc sống tự lập ổn định, nên anh chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp theo quy định.
Đối với cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010, hiện nay cháu đang sống với anh Đ; chị V thống nhất giao cháu T cho anh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; đồng thời, cháu T có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh Đ. Do đó, giao cho anh Đ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngô Thanh T đến khi cháu đủ 18 tuổi; chị V khỏi phải cấp dưỡng nuôi con, do anh Đ không có yêu cầu là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ thống nhất tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết, là phù hợp theo quy định pháp luật.
[6] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình không có tham gia phiên tòa, vì trong quá trình tiến hành tố tụng đương sự tự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét giải quyết theo quy định, nên Tòa án chưa tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình không có tham gia phiên tòa đối với vụ án, là phù hợp theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 21, 28, 35, 36, 39 và Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 16/9/2010 cho anh Ngô Văn Đ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi; chị Nguyễn Thị V khỏi phải cấp dưỡng nuôi cháu T do anh Đ không có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ thống nhất tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Đối với cháu Ngô Thanh V1, sinh năm 2004 đã trên 18 tuổi, đã có cuộc sống tự lập ổn định, nên chị V và anh Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006979 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.
- Anh Ngô Văn Đ không phải chịu tiền án phí ly hôn.
Chị Nguyễn Thị V và anh Ngô Văn Đ có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thành Triều |
Bản án số 161/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 161/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ hôn nhân
