Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/DS-PT

Ngày: 09-7-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử

dụng đất và yêu cầu bồi thường

thiệt hại về tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Kha

Các Thẩm phán:

Ông Lê Quang Tấn

Bà Nguyễn Thị Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 04 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 94/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Trương Hoàng S, sinh năm 1964.

Địa chỉ: A đường N, khu phố L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

*Bị đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Võ Văn A, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang

*Người làm chứng:

  1. Ông Trương Minh T, sinh năm 1968.
  2. Ông Võ Thành T1, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: Khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Hoàng S

(Ông Trương Hoàng S, bà Phạm Thi B1, ông Võ Văn A có mặt; ông Trương Minh T, ông Võ Thành T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Hoàng S trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là tháng 02 năm 2017 ông S nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn K, nhưng ông Phạm Văn E còn đứng tên và ông E cũng thống nhất là giấy tờ cho ông, diện tích ban đầu phía ngoài giáp lộ Bến Nhứt số đo 39,85m, phía sau hậu 40,40m. Khi mua bán thì thỏa thuận ông K làm người chịu trách nhiệm làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phía trước thì có cắm trụ đá sâu xuống đất và phía sau có cắm trụ đá nhưng không sâu. Lúc đo đất để tiến hành làm giấy tờ, bà B1 không có mặt ở nhà nhưng có mặt con của bà B1Võ Thành T1 và em của bà B1 là ông Phạm Ngọc E1 và vợ chồng K. Khoảng 06 tháng sau, ông có thuê người xây hàng rào đổ bê tông, trụ đá và lưới B40 làm theo trụ đá đã cặm, khi này ông cũng không kiểm tra lại diện tích đất. Khi xây dựng hàng rào xong thì bà B1 cũng không có ý kiến gì. Thời điểm phát sinh tranh chấp là do bà B1 cải tạo lại đất nên có làm sụp hàng rào của ông thì ông mới phát hiện phần đất bị thiếu.

Nay ông S yêu cầu bà Phạm Thị B trả lại đất bị lấn chiếm chiều ngang 1,3m, chiều dài 84,8 m nằm trong thửa số 166, tờ bản đồ 7 tọa lạc khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang do ông Trương Hoàng S đứng tên, yêu cầu bà B phục hồi nguyên hiện trạng hàng rào đã sụp ngã toàn bộ theo ban đầu giá trị là 31.160.000 đồng.

*Bị đơn bà Phạm Thị B trình bày:

B xác định khi ông S nhận chuyển nhượng đất của ông K thì bà không có mặt ở địa phương nhưng con con bà là anh T1 có gọi điện báo cho bà và hai bên cũng thống nhất ranh giới. Giữa phần đất của bà và ông S có hai trụ đá phía trước và phía sau. Khi ông S xây hàng rào thì bà chưa về nhưng có con bà là anh T1, bà cũng thống nhất theo hàng rào của ông S xây dựng.

Khoảng tháng 04/2019, gia đình bà có cải tạo làm vườn, hiện trạng phần đất giáp ranh với ông S vẫn còn hàng tiêu, bà có thuê robe múc đất làm mương tưới tiêu, khi múc đất có kêu múc chừa phần đất ông S khoảng 05 tất. Khoảng thời gian 04-05 tháng do trời mưa nên dẫn đến hiện tượng sụp ngã hàng rào của ông S. Việc hàng rào ông S sụp ngã không phải do bà gây ra nên bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn A trình bày:

Ông A xác định phần đất của ông S là do ông S nhận chuyển nhượng của ông Phạm Hoàng K1 chứ phải ông Phạm Ngọc E1, hiện ông K1 không có ở địa phương, đã đi nước ngoài, không xác định được địa chỉ. Hiện trạng sử dụng đất từ lúc ông E1 bán cho ông bà đến nay vẫn giữ nguyên, các trụ đá phân định ranh giới đến nay vẫn không thay đổi. Ông A không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S về việc lấn đất và không đồng ý yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông S.

*Người làm chứng ông Trương Minh T trình bày:

Ông T xác định ông chỉ là người quản lý vườn của ông S, khi ông S xây dựng hàng rào và khi bà B múc đất thì ông đều có mặt chứng kiến, tại thời điểm hai bên thực hiện thì đều không tranh chấp, đối với cây trồng hoa màu trên đất thì ông không có yêu cầu gì, ông thống nhất theo ý kiến của ông S do đây là tài sản của ông S.

*Người làm chứng ông Võ Thành T1 trình bày:

Anh T1 xác định phần đất tranh chấp là của cha mẹ anh là ông A - bà B. Khi ông S xây dựng hàng rào và khi bà B múc đất thì anh đều có mặt chứng kiến, tại thời điểm hai bên thực hiện thì đều không tranh chấp, nay ông S khởi kiện yêu cầu mẹ anh là bà Phạm Thị B giao trả đất lấn chiếm và bồi thường thiệt hại thì anh không đồng ý do gia đình anh không lấn đất, anh thống nhất theo ý kiến của bà B và ông A.

*Tại bản án dân sự sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hoàng S về việc kiện đòi bà Phạm Thị B giao trả quyền sử dụng đất lấn chiếm, diện tích theo thực tế đo đạc là 44.7 m² và bồi thường thiệt hại về tài sản là phần hàng rào bị sụp có giá trị là 29.160.000 đồng (Hai mươi chín triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Thửa đất 166, tờ bản đồ số 07, loại đất hai lúa, tọa lạc tại khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang do ông Trương Hoàng S đứng tên quyền sử dụng có diện tích theo thực tế đo đạc là 3.026,7 m². Vị trí đất có số đo cụ thể như sau:

  • Cạnh 10 -11 giáp với Mương công cộng có số đo 73.33 m;
  • Cạnh 11-5 giáp với Kênh T có số đo 40.19 m;
  • Cạnh 9-10 giáp với đất của ông Phan Quốc K2 có số đo 17.73m; cạnh 9-8 giáp với đất của ông Trương Hoàng S có số đo 10.39m; cạnh 8-7 giáp với đất của ông Phạm Ngọc E1 có số đo 12.57 m;

Cạnh 7-4 giáp với đất của bà Phạm Thị B có số đo 8.46m; cạnh 4-5 giáp với thửa đất 443 của bà Phạm Thị B có số đo 71.14m; cạnh 5-6 giáp với thửa đất 443 của bà Phạm Thị B có số đo 3.9m.

(Theo trích đo địa chính số 386-2022 (166,443-07) ngày 08/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/5/2022)

2. Áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về hoa màu của ông S đối với bà B là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 11/01/2024, nguyên đơn ông Trương Hoàng S có đơn kháng cáo với nội dung:

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trương Hoàng S giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn bà Phạm Thị B không có kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Hoàng S, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về phần án phí, do ông Trương Hoàng S là người cao tuổi nên miễn án phí cho ông S.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Hoàng S về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của bản án sơ thẩm:

Nguyên đơn ông Trương Hoàng S kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối tượng tranh chấp là diện tích đất 44,7 m² thuộc thửa đất số 166, tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang do ông Trương Hoàng S đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vị trí đất tranh chấp có số đo cụ thể như sau:

  • Cạnh 6-12 giáp với K3 thủy lợi có số đo 1.3 m
  • Cạnh 4-12 giáp với thửa đất số 443 của bà Phạm Thị B có số đo 75.56m;
  • Cạnh 4-5 giáp với thửa đất số 166 của ông Trương Hoàng S có số đo 71.14m;
  • Cạnh 5-6 giáp với thửa đất số 166 của ông Trương Hoàng S có số đo 3.9 m;

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp, ông S và bà B đều nhận chuyển nhượng từ thửa đất số 166, tờ bản đồ số 7 của ông Phạm Ngọc E1.

Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất và phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 04/7/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì diện tích giấy chứng nhận cấp cho ông Trương Hoàng S là 3.016,7m², trong đó phần đất thuộc cạnh 7-4 giáp kênh thủy lợi có số đo là 40.67m, đối chiếu với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất thực tế ông S đang sử dụng diện tích là 3.026,7 m², trong đó phần đất thuộc cạnh 11-5 (Theo trích đo) giáp kênh thủy lợi có số đo là 40.19m.

Phần đất của bà Phạm Thị B bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất và phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 03/3/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì diện tích giấy chứng nhận cấp cho bà Phạm Thị B là 3.294,8 m², trong đó phần đất thuộc cạnh 4-1 giáp kênh thủy lợi có số đo là 42.70 m, đối chiếu với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất thực tế bà B đang sử dụng diện tích là 3.045,3 m², trong đó phần đất thuộc cạnh 12-1 (Theo trích đo ngày 08/8/2022) giáp kênh thủy lợi có số đo là 43.91 m.

Từ đó cho thấy có sự chênh lệch số liệu so với thời điểm cấp giấy. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án các đương sự cùng xác định trụ đá ranh giới

phía ngoài vẫn còn giữ nguyên theo hiện trạng ban đầu, phần trụ đá phía trong (Giáp kênh thủy lợi) ngay phần đất tranh chấp, sau khi xem xét thẩm định tại chỗ vẫn còn, ông S cho rằng bà B có hành vi dời trụ đá, lấn chiếm của ông 1.3m tuy nhiên không cung cấp được chứng cứ để chứng minh sự việc bà B có hành vi di dời trụ đá. Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thì trụ đá phía giáp kênh thủy lợi làm ranh hai bên vẫn còn và một phần hàng rào của ông S đã xây dựng chưa bị sụp đổ vẫn còn ngay vị trí trụ đá.

Hiện trạng sử dụng đất như trên đã được các bên tự nguyện xác lập từ năm 2017 (BL101), có hàng rào làm ranh từ năm 2018 (BL100) thì không có bên đương sự nào có ý kiến hay yêu cầu chính quyền địa phương can thiệp. Mặc khác diện tích sử dụng đất thực tế của ông S nhiều hơn so với diện tích đất được cấp quyền sử dụng là (3.026,7 m² – 3.016,7 m² = 10 m² ) diện tích đất của bà B đang sử dụng thực tế ít hơn so với diện tích đất được cấp quyền sử dụng (3.294,8 m² – 3.045,3 m² = 249,5 m²). Ngoài ra, các đương sự cùng xác định ông S là người xây hàng rào trước, đến tháng 06/2019 bà B múc đất sau khi thực hiện các bên đều thống nhất ranh giới, không có ý kiến phản đối từ đó cho thấy các bên đã sử dụng đất ổn định, thống nhất.

Theo kết quả xác minh thì ông Phạm Ngọc E1 xác định bà B đang sử dụng đất đúng hiện trạng khi ông chuyển nhượng. Quá trình giải quyết tại địa phương thì ông S không yêu cầu giải quyết việc lấn chiếm đất nên chính quyền không nắm.

Căn cứ vào lời trình bày của ông Trương Minh T và ông Võ Thành T1 và kết quả xác minh đối với người trực tiếp múc đất cho bà B là ông Nguyễn Trung T2 đều xác định tại thời điểm bà B múc mương cải tạo vườn đã sử dụng đúng phần đất của bà B, hộ giáp ranh không có ý kiến phản đối hay ngăn cản gì.

Theo công văn số 262/STNMT-VPDK ngày 28/02/2023 của Sở T3 thì trình tự, thủ tục cấp giấy cho ông S và bà B đều đúng quy định tại Điều 75, 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Từ những phân tích trên xét thấy ông S cho rằng bà B lấn chiếm và yêu cầu trả lại diện tích đất ngang 1.3m, dài 84.8m, theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ diện tích tranh chấp thực tế là 44.7 m² là không có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông S: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện phần hàng rào bị sụp đổ có số đo là 66.7m, các đương sự đều xác định hiện trạng hàng rào ông S xây dựng là lưới B40 và trụ đá, không kiên cố, ông S cho rằng trụ đá bị sụp đổ là 22 trụ đá nhưng theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/12/2023 thì hiện còn 07 trụ đá, mỗi trụ dài 02m, khoảng cách giữa các trụ khoảng 3.2m. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông S xác định sau khi gia đình bà B múc đất khoảng 05 ngày thì hàng rào ông bị sụp đổ ngay ông đã báo chính quyền địa phương lập biên bản vụ việc và đã giao

nộp đầy đủ khi yêu cầu giải quyết tại Ủy ban nhân dân Thị trấn G. Tòa án sơ thẩm đã làm công văn trao đổi với Ủy ban nhân dân Thị trấn G yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở giải quyết vụ án. Tuy nhiên theo công văn số 69/UBND-ĐC ngày 12/9/2023 của Ủy ban nhân dân Thị trấn G trả lời trong hồ sơ lưu trữ hiện tại không có biên bản vụ việc hàng rào ông S bị sụp đổ do Ban lãnh đạo Khu phố lập và có kèm theo biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ lập ngày 29/9/2019 của UBND thị trấn G nhận tài liệu, chứng cứ do ông S trực tiếp giao nộp không có biên bản vụ việc.

Tòa án sơ thẩm cũng đã tiến hành xác minh đối với các cán bộ công tác tại Khu phố V là ông Phan Tấn Đ, bà Bùi Thị N và ông Hồ Thanh L xác định có sự việc ông S trình báo việc hàng rào bị sụp đổ, chính quyền khu phố có trực tiếp đến kiểm tra thì hiện trạng hàng rào sụp, hiện trạng hàng rào xây dựng tạm, trụ đá và lưới B40, không kiên cố, thời tiết có mưa kéo dài, nền đất xây dựng hàng rào do mới được cải tạo lên từ đất ruộng nên kết cấu đất không vững chắc. Chính quyền khu phố cũng không lập và không lưu giữ biên bản vụ việc.

Ông S không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh nguyên nhân sụp đổ hàng rào là do lỗi của bà B nên không có căn cứ xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại về hàng rào sụp đổ của ông S.

Mặt khác, theo văn bản số 74/CV-CNVPDKDD ngày 22/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G thì từ năm 2017 cho đến nay thửa đất của ông S và bà B đều không chuyển mục đích sử dụng đất. Ông S xác định sau khi chuyển nhượng còn cho ông K1 canh tác thêm 01 vụ lúa mới cải tạo thành vườn vào năm 2018 và xây dựng hàng rào ngay nên ý kiến của bà B về việc ông S xây dựng công trình trên nền đất lúa, kết cấu không vững chắc dẫn đến sụp hàng rào là có cơ sở. Xét thấy ông S tự ý xây dựng công trình trên phần đất chuyên trồng lúa nước là không đảm bảo pháp luật về sử dụng đất đai, vi phạm nghĩa vụ chung của người sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì yêu cầu khởi kiện của ông S về bồi thường thiệt hại là không có cơ sở chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 163, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 của Luật đất đai năm 2013, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.

Ông S tự nguyện rút yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoa màu trên đất là 2.000.000 đồng nên căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông S đối với bà B là phù hợp.

Do bà Phạm Thị B không có yêu cầu phản tố về việc công nhận diện tích đất tranh chấp là của bà nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không giải quyết là có căn cứ.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Hoàng S, sửa bản án sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về phần án phí.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của ông S không được chấp nhận nên ông S phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là là 6.111.001 đồng, ông S đã nộp xong theo hóa đơn số 00000626 ngày 29/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G.

[6] Về án phí:

[6.1] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hoàng S không được chấp nhận nên ông S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch đối với yêu cầu đòi quyền sử dụng đất 300.000 đồng và bồi thường thiệt hại là 29.160.000 đồng x 5% = 1.458.000 đồng, tổng cộng ông S phải nộp số tiền án phí là 1.758.000 đồng. Ông S là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại số tiền tạm ứng án phí mà ông S đã nộp là 1.079.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002164 ngày 11/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng.

[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Trương Hoàng S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên ông S là người cao tuổi nên không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Hoàng S.

- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 313/2023/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về phần án phí.

Căn cứ khoản 6, 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 163, Điều 175, Điều 584 và Điều 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 166 và khoản 1 Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013. Xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hoàng S về việc kiện đòi bà Phạm Thị B giao trả quyền sử dụng đất lấn chiếm, diện tích theo thực tế đo đạc là 44.7 m² và bồi thường thiệt hại về tài sản là phần hàng rào bị sụp có giá trị là 29.160.000 đồng (Hai mươi chín triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng).
  2. Thửa đất 166, tờ bản đồ số 07, loại đất hai lúa, tọa lạc tại khu phố V, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang do ông Trương Hoàng S đứng tên quyền sử dụng có diện tích theo thực tế đo đạc là 3.026,7 m². Vị trí đất có số đo cụ thể như sau:

    • Cạnh 10 -11 giáp với Mương công cộng có số đo 73.33 m;
    • Cạnh 11-5 giáp với Kênh T có số đo 40.19 m;
    • Cạnh 9-10 giáp với đất của ông Phan Quốc K2 có số đo 17.73m; cạnh 9-8 giáp với đất của ông Trương Hoàng S có số đo 10.39m; cạnh 8-7 giáp với đất của ông Phạm Ngọc E1 có số đo 12.57 m;
    • Cạnh 7-4 giáp với đất của bà Phạm Thị B có số đo 8.46m; cạnh 4-5 giáp với thửa đất 443 của bà Phạm Thị B có số đo 71.14m; cạnh 5-6 giáp với thửa đất 443 của bà Phạm Thị B có số đo 3.9m.

    (Theo trích đo địa chính số 386-2022 (166,443-07) ngày 08/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/5/2022)

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

    Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về hoa màu của ông S đối với bà B là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)

  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

    Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của ông S không được chấp nhận nên ông S phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là là 6.111.001 đồng, ông S đã nộp xong theo hóa đơn số 00000626 ngày 29/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G.

  5. Về án phí dân sự:

    4.1 Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại cho ông S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.079.000 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002164 ngày 11/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

4.2 Án phí dân sự phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Trương Hoàng S không phải chịu. Trả lại cho ông S 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005616 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Giồng Riềng;
  • - THA dân sự huyện Giồng Riềng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Kha

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán

Thẩm phán

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 161/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Hoàng S-Phạm Thị B-T/c quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger