|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 161/2020/DS-PT Ngày: 25/11/2020 V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hữu Giàu
Các Thẩm phán: Bà Ngô Ngọc Phỉ, Ông Nguyễn Hoàng Thám
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mộng Cầm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2020/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2010/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh A bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 200/2020/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2020/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Đồng nguyên đơn:
- 1.1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ T, ấp B, xã H, thị xã T, tỉnh A (Vắng mặt); Đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Trần Văn N, sinh năm 1968 (Có mặt).
- 1.2. Bà Trần Thị S, sinh năm 1953. Địa chỉ: Khóm L, phường P, thị xã T, tỉnh A (Chết, các con bà S kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng).
- 1.3. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp V, xã Vĩnh Hậu, huyện N, tỉnh A (Có mặt).
- 1.4. Ông Trần Văn N, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh A. Chỗ ở hiện nay: Ấp I, xã Â, thị xã T, tỉnh A (Có mặt).
2. Đồng bị đơn:
- 2.1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1955 (Vắng mặt);
- 2.2. Ông Trần Văn U, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh A.
3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh A (Vắng mặt).
- 3.2. Ông Trần Văn M, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ 9, ấp Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện N, tỉnh A (Vắng mặt).
- 3.3. Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1934. Địa chỉ: Ấp B, xã H, thị xã T, tỉnh A (Vắng mặt).
- 3.4. Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1973; 3.5. Anh Nguyễn Văn Đi, sinh năm 1975; 3.6. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; 3.7. Anh Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1980; 3.8. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1982; 3.9. Anh Nguyễn Văn Z, sinh năm 1984; 3.10. Anh Nguyễn Văn W, sinh năm 1976. Cùng địa chỉ: Tổ 16, khóm L, phường P, thị xã T, tỉnh A (Vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Đi, ông Trần Văn N, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Đ và ông Trần Văn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung của các đồng nguyên đơn đề cùng ngày 19/12/2015 các đồng nguyên đơn trình bày: Cụ ông Trần Văn T (chết năm 2014), cụ bà Nguyễn Thị A (chết năm 2011). Ông bà sinh được 08 người con gồm: Bà Trần Thị S, bà Trần Thị H, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị Đ, ông Trần Văn Mâ (chết 2003), ông Trần Văn M, ông Trần Văn N và ông Trần Văn U.
Khi cụ A và cụ T qua đời có để lại di sản thừa kế gồm: 7.278m2 đất nông nghiệp theo GCNQSDĐ số 00519 QSDĐ/bD cấp ngày 26/01/1994 do bà Nguyễn Thị A đứng tên, 3.000m2 đất cây lâu năm, một căn nhà ngang 11,8m, dài 17m và các vật dụng khác trị giá 380.000.000 đồng hiện do ông Trần Văn U và ông Trần Văn Đ đang quản lý.
Ngày 30/10/2017 các đồng nguyên đơn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, xin rút lại một phần yêu cầu. Chỉ yêu cầu chia đất nông nghiệp diện tích theo kết quả đo vẽ ngày 19/7/2017 với tổng diện tích 5.789m2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét đơn kháng cáo của bà H, ông N, bà Đ và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Cụ Trần Văn T và cụ Nguyễn Thị A chết có để lại di sản là diện tích đất 5.789m2. Hiện nay diện tích đất này do ông Trần Văn U đang quản lý, sử dụng.
[2]. Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ, thẩm định tại chỗ. Trên đất có 240 cây xoài do ông U trồng. Hội đồng định giá xác định diện tích đất 5.789m2 có giá trị 463.120.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Phúc xử: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2010/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh A về phần án phí và cách tuyên án của phần án phí dân sự sơ thẩm:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của các đồng nguyên đơn: Bà Trần Thị H, ông Trần Văn N, bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị S (chết, các con bà S thế vị) và yêu cầu độc lập của ông Trần Văn M.
- Công nhận di sản của cụ Trần Văn T và cụ Nguyễn Thị A để lại gồm diện tích 5.789m2 tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh A.
- Chia di sản thừa kế thành 07 phần bằng nhau cho các thừa kế. Giao cho ông Trần Văn U được quyền quản lý, sử dụng diện tích 5.789m2. Ông U có nghĩa vụ hoàn lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác mỗi người 66.160.000 đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu đối với diện tích 3.000m2 đất trồng cây lâu năm và căn nhà phủ thờ do nguyên đơn rút yêu cầu.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND AG; - Phòng KTNV và THA; - TAND huyện; - Văn Phòng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Hữu Giàu |
Bản án số 161/2020/DS-PT ngày 25/11/2020 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 161/2020/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2020
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
