|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1604/2025/DS-ST
Ngày: 21 – 11 – 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quản;
- Bà Nguyễn Thị Thuần;
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại Phòng xử dân sự trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 816/2025/TLST–DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về “V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4094/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam);
Địa chỉ trụ sở chính (trước sáp nhập): 91 Đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ trụ sở chính (sau sáp nhập): 91 Đường P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số: 22/2025/GUQ-MAFC ngày 17/4/2025, Giấy uỷ quyền ngày 17/4/2024 của Công ty L1 niềm tin);
Địa chỉ (trước sáp nhập): ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang;
Địa chỉ (sau sáp nhập): ấp L, phường L, thành phố Cần Thơ;
Địa chỉ liên lạc (trước sáp nhập): Phòng 401, Tầng D, Tòa nhà số G Đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc (sau sáp nhập): Phòng 401, Tầng D, Tòa nhà số G Đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt)
Bị đơn: Bà Bùi Thị Thanh N, sinh năm 2000;
Địa chỉ (trước sáp nhập): 453/80/19 Khu phố E, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ (sau sáp nhập): 453/80/19 Khu phố F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, B khai, Biên bản thì với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Lâm Thị Thùy D trình bày:
Ngày 20/01/2024 Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) với bà Bùi Thị Thanh N có ký Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 5248940 vay số tiền 37.695.000 (ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng, trong đó khoản vay tiêu dùng 35.000.000 đồng, phí bảo hiểm 2.695.000 đồng; thời hạn vay 24 tháng (từ ngày 15/02/2024 đến ngày 15/01/2026); lãi suất trong hạn 52%/năm; lãi suất quá hạn = 150% x lãi suất trong hạn x số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x số ngày quá hạn : 365 ngày; lãi chậm trả = 10% x số tiền lãi trong hạn chưa trả mỗi kỳ x số ngày quá hạn : 365 ngày. Công ty giải ngân ngày 22/01/2024. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thanh toán ngày 15/02/2024, thanh toán hàng tháng 2.569.762 (hai triệu, năm trăm sáu mươi chín nghìn, bảy trăm sáu mươi hai) đồng; tháng cuối cùng thanh toán 1.571.913 (một triệu, năm trăm bảy mươi mốt nghìn, chín trăm mười ba) đồng. Thực hiện hợp đồng, bà N đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho Công ty được 06 (sáu) lần, với số tiền 15.878.806 (mười lăm triệu, tám trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm lẻ sáu) đồng. Trong đó: gốc đã trả 7.1116.975 đồng, lãi đã trả: 8.701.831 đồng, phí thu hộ đã trả 60.000 đồng. Sau ngày 09/9/2024 bà N không thanh toán bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay, Công ty yêu cầu bà N thanh toán số tiền tính đến ngày 21/11/2025 là 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng. Trong đó: Nợ gốc 30.578.025 đồng, L trong hạn 13.789.554 đồng, L quá hạn 11.575.489 đồng, L chậm trả: 1.091.207 đồng. Ngoài ra, bà N còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên.
Trong Bản khai, Biên bản thì bị đơn – bà Bùi Thị Thanh N trình bày:
Ngày 20/01/2024 bà với Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) có ký Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 5248940 vay số tiền 37.695.000 (ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng. Trong đó khoản vay tiêu dùng 35.000.000 đồng, phí bảo hiểm 2.695.000 đồng; thời hạn vay 24 tháng (từ ngày 15/02/2024 đến ngày 15/01/2026); lãi suất trong hạn 52%/năm; lãi suất quá hạn = 150% x lãi suất trong hạn x số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x số ngày quá hạn : 365 ngày; lãi chậm trả = 10% x số tiền lãi trong hạn chưa trả mỗi kỳ x số ngày quá hạn : 365 ngày. Công ty giải ngân ngày 22/01/2024. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, bà có trách nhiệm thanh toán vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thanh toán ngày 15/02/2024, thanh toán hàng tháng 2.569.762 (hai triệu, năm trăm sáu mươi chín nghìn, bảy trăm sáu mươi hai) đồng; tháng cuối cùng thanh toán 1.571.913 (một triệu, năm trăm bảy mươi mốt nghìn, chín trăm mười ba) đồng. Thực hiện hợp đồng, bà đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho Công ty được 06 (sáu) lần, với số tiền 15.878.806 (mười lăm triệu, tám trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm lẻ sáu) đồng. Thời gian về sau bà gặp khó khăn trong công việc, nên không thanh toán cho Công ty. Nay, Công ty yêu cầu bà thanh toán số tiền tính đến ngày 21/11/2025 là 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng. Trong đó: Nợ gốc 30.578.025 đồng, L trong hạn 13.789.554 đồng, L quá hạn 11.575.489 đồng, L chậm trả: 1.091.207 đồng. Ngoài ra, bà còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên thì bà đồng ý. Tuy nhiên, do bà đang mang thai, chưa có việc làm, nên không có khả năng thanh toán số tiền. Bà đề nghị Công ty cho bà trả số tiền số tiền nêu trên khi bà sanh xong, đi tìm việc làm trả nợ cho Công ty mỗi tháng khoảng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi hết số tiền nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do vụ án hòa giải không thành, nên được đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt trình bày: Yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền tính đến ngày 21/11/2025 là 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Trong đó: Nợ gốc 30.578.025 đồng, L trong hạn 13.789.554 đồng, L quá hạn 11.575.489 đồng, L chậm trả: 1.091.207 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ.
Bị đơn có mặt trình bày: Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án. Thừa nhận có vay, nhận của nguyên đơn 37.695.000 (ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng. Trong đó khoản vay tiêu dùng 35.000.000 đồng, phí bảo hiểm 2.695.000 đồng. Việc vay tiền không liên quan đến bất kỳ người nào khác. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền tính đến ngày 21/11/2025 là 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Và chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên thì bị đơn đồng ý. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn bị đơn đề nghị sau khi sanh xong, đi tìm việc làm trả nợ cho Công ty mỗi tháng khoảng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi hết số tiền nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc thanh toán số tiền vay do các bên đương sự xác lập, giữa một bên là tổ chức tín dụng với khách hàng. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo kết quả xác minh: “Đương sự Bùi Thị Thanh N, sinh năm 2000 có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ 4 Đường L, Khu phố F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Như vậy, theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định: Bị đơn thừa nhận có vay, nhận của nguyên đơn số tiền 37.695.000 (ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng theo Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 5248940 ngày 20/01/2024 và Phiếu báo nợ ngày 22/01/2024. Việc vay tiền không liên quan đến bất kỳ người nào khác. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ tính đến ngày 21/11/2025 là 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng. Và chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên thì bị đơn đồng ý. Tuy nhiên, bị đơn đề nghị sau khi sanh xong, đi tìm việc làm trả nợ cho nguyên đơn mỗi tháng khoảng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi hết số tiền nợ.
Theo quy định của pháp luật:
Điều 91, 92, 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, ...”. Đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào ngày 22/01/2024 bị đơn được nguyên đơn giải ngân khoản vay số tiền 37.695.000 (ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng theo Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 5248940 ngày 20/01/2024. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật. Các tình tiết, sự kiện do nguyên đơn đưa ra không bị bất kỳ đương sự nào phản đối, nên nguyên đơn không cần chứng minh gì thêm. Mục đích vay tiền của bị đơn để tiêu dùng cá nhân, không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên không cần thiết triệu tập thêm đương sự để tham gia tố tụng. Mặt khác, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả nợ. Xét, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý, nên chấp nhận. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên.
Đối với ý kiến của bị đơn đề nghị sau khi sanh xong, đi tìm việc làm trả nợ cho nguyên đơn mỗi tháng khoảng 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi hết số tiền nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Mặt khác, nguyên đơn không đồng ý với phương thức trả nợ mà bị đơn nêu ra. Do đó, ý kiến này của bị đơn không được xem xét.
[4] Về án phí: Theo Điều 47 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[4.1] Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch 57.034.275 đồng x 5% = 2.851.714 (hai triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, bảy trăm mười bốn) đồng, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực có thẩm quyền.
[4.2] Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí 988.598 (chín trăm tám mươi tám nghìn, năm trăm chín mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0029191 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 93, 96, 147, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc bà Bùi Thị Thanh N có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T (Việt Nam) 57.034.275 (năm mươi bảy triệu, không trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm) đồng khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Trong đó: Nợ gốc 30.578.025 đồng, L trong hạn 13.789.554 đồng, L quá hạn 11.575.489 đồng, L chậm trả: 1.091.207 đồng.
- Kể từ ngày 22/11/2025 bà Bùi Thị Thanh N còn phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên.
- Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Phòng thi hành án dân sự khu vực có thẩm quyền.
- Về án phí:
- Bà Bùi Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.851.714 (hai triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, bảy trăm mười bốn) đồng, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực có thẩm quyền.
- Hoàn trả lại cho Công ty T (Việt Nam) tiền tạm ứng án phí 988.598 (chín trăm tám mươi tám nghìn, năm trăm chín mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0029191 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
- Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |
Bản án số 1604/2025/DS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1604/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
