Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1604/2023/DS-ST

Ngày: 21/8/2023

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Nhơn

2/ Ông Nguyễn Văn Tài

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Trang – Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 0073/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 359/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 280/2023/QÐST-DS ngày 31/7/2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Ngọc Á; địa chỉ: Số D (trệt) đường X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: Bà Vũ Thị Thùy H; địa chỉ: Số I Đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản uỷ quyền ngày 20/6/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trương Thị H1; địa chỉ: Số H Đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Lê Vũ Trung H2; địa chỉ: Số D (trệt) đường X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người làm chứng: Bà Phạm Thị Hồng B; địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận B, Tp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/12/2021, bản tự khai và các biên bản của Tòa án, nguyên đơn là bà Vũ Ngọc Á và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Vũ Ngọc Á và ông Lê Trung T là vợ chồng theo Giấy công nhận kết hôn số 07, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/01/1980. Ông bà có 01 người con chung là Lê Vũ Trung H2.

Ngày 15/5/2015, ông Lê Trung T có lập di chúc tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) với nội dung sau khi ông Lê Trung T qua đời, ông T để lại cho bà Á được hưởng toàn bộ di sản là quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của ông Lê Trung T trong các tài sản sau:

  1. Nhà đất số 4B trệt X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là nhà đất số 4B trệt) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 143/2003 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 27/11/2003.
  2. Thửa đất diện tích 4452 m², tờ bản đồ số 15, thửa số 293, 253, 254, toạ lạc tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 319358 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 10/10/2001, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01570 QSDĐ/1933QĐCTUBH, đăng ký thay đổi ngày 02/3/2011.
  3. Thửa đất diện tích 1788 m², tờ bản đồ số 8, thửa số 383 tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là thửa số 383) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 420810 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/8/2001, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4362 QSDĐ/LQ, đăng ký thay đổi ngày 01/7/2003.
  4. Thửa đất diện tích 221,2 m², tờ bản đồ số 7, thửa đất số 1951, tọa lạc tại ấp Đ, xã M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 482594 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 23/01/2007, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00299.
  5. Thửa đất diện tích 402 m², tờ bản đồ số 7, thửa số 1946, toạ lạc tại ấp Đ, xã M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH482597 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 23/01/2007, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00302.

Bà Á và ông T lập di chúc cùng ngày 15/5/2015. Theo sổ gốc, di chúc của bà Á có số công chứng là 005888, di chúc của ông T có số công chứng là 005889 nhưng Văn phòng Công chứng Phạm Xuân T1 đã phát hành sai thành số 005888 nên Văn phòng Công chứng Phạm Xuân T1 đã ra văn bản số 136/VPCCTT-PXT ngày 29/11/2021 xác nhận đã có sai sót trong việc đóng dấu số công chứng trên bản di chúc đã phát hành của ông T.

Khi ông T còn sống, bà Á và ông T đã chuyển nhượng thửa đất diện tích 4452 m², thửa số 293, 253, 254, tờ bản đồ số 15 tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai và thửa đất diện tích 402 m², thửa số 1946, tờ bản đồ số 7 tại ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 02/11/2020 ông T chết. Bà Á đã tiến hành khai nhận di sản thừa kế theo di chúc ngày 15/5/2015 của ông Lê Trung T đối với 02 di sản là nhà đất số 4B trệt và thửa đất số 383. Việc khai nhận di sản thừa kế không thực hiện được do có khiếu nại của ông Lê Vũ Trung H2. Do đó, bà Á khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc của ông Lê Trung T được lập tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) số công chứng 005889 ngày 15/5/2015 là hợp pháp; bà Á được hưởng di sản thừa kế của ông Lê Trung T là phần quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông Lê Trung T đối với nhà đất tại số D trệt và quyền sử dụng đất của ông Lê Trung T đối với thửa đất số 383.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Á xác định thửa đất diện tích 221,2 m², tờ bản đồ số 7, thửa đất số 1951, tọa lạc tại ấp Đ, xã M là đất mồ mả ông bà nên bà Á không tiến hành kê khai di sản thừa kế, không tranh chấp. Cha mẹ của ông T là ông Lê Văn D chết năm 1956 và bà Lương Thị N chết năm 1973, không có giấy chứng tử. Ông T không có người con nào khác ngoài bị đơn. Bà Á không đồng ý với yêu cầu của ông H2 về việc cho ông H2 được hưởng ¼ giá trị di sản của ông T và giao cho ông H2 được quyền quản lý tài sản vì ông T đã có di nguyện để cho bà Á hưởng thừa kế nên bà sẽ làm theo nguyện vọng của ông T.

Theo các đơn phản tố ngày 21/6/2022, ngày 22/6/2022, ngày 26/12/2022, ngày 19/01/2023; đơn yêu cầu ngày 10/3/2023; văn bản trình bày ý kiến ngày 18/7/2022 và các biên bản của Tòa án, bị đơn là ông Lê Vũ Trung H2 trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì ông T, bà Á chỉ có ông là con duy nhất nhưng ông lại không biết về việc ông T lập di chúc. Bà Á làm thủ tục khai nhận di sản cũng không thông báo cho ông biết. Ông cũng không biết việc ông T, bà Á đã chuyển nhượng thửa đất thửa số 293, 253, 254, tờ bản đồ số 15 tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai và thửa đất số 70, tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Di chúc của ông Lê Trung T không được lập tại Văn phòng C mà được lập tại nhà số D trệt. Tại thời điểm lập di chúc, ông T không còn minh mẫn và không làm chủ được hành vi. Người làm chứng di chúc cũng chính do bà Á sắp đặt chứ không phải ý nguyện của ông T. Lẽ ra bà Á phải đề nghị ông làm người làm chứng. Theo ông, văn bản công chứng số E không phải di chúc của ông Lê Trung T mà là của một người khác bởi di chúc đúng của ông T có số công chứng là 005889 gồm 05 tài sản, nhưng bà Á chỉ khai nhận di sản thừa kế đối với 02 tài sản. Thời điểm năm 2015, ông T bị tai biến và tay run nên ông T không thể là người viết di chúc được. Chữ ký tại bản di chúc có thể do bà Á ký vì nhiều lần ông đã thấy bà Á ký thay ông T. Ngoài ra, theo Kết luận giám định số 4472-1/KL-KTHS về việc giám định dấu vân tay của ông Lê Trung T thì cơ quan giám định không giám định được do “Không thể hiện rõ đặc điểm riêng, không đủ yếu tố thẩm định” nhưng công chứng viên là người có chuyên môn và hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc lấy dấu vân tay nên chỉ trừ khi lúc đó ông T không đồng ý với văn bản di chúc nên dấu vân tay mới không rõ ràng. Hơn nữa, năm 2018, khi ông T minh mẫn, có họp gia đình và nói tài sản sau này sẽ để lại cho vợ chồng ông quản lý, ông T cũng không nói đến việc ông T đã lập di chúc. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà Á không có ý định để sau này ông được quản lý di sản của ông T. Ông nhận thấy khi bà Á đã đạt mục đích sở hữu tài sản, gạt bỏ ông ra khỏi diện được thừa kế thì bà Á có quyền giao cho bất kỳ người khác. Vì vậy, ông yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ khám chữa bệnh của ông Lê Trung T khi bị tai biến vào đầu năm 2015 tại bệnh viện N1; giám định tâm thần đối với bà Á do bà không ổn định tinh thần, giảm trí nhớ, hay quên, thường xuyên suy nghĩ tiêu cực và có triệu chứng hoang tưởng; yêu cầu bà Á phải giao toàn bộ bản chính giấy tờ nhà đất cho ông quản lý; huỷ bỏ bản di chúc của ông Lê Trung T lập ngày 15/5/2015; phân chia thừa kế di sản bao gồm 05 tài sản đã liệt kê tại bản di chúc theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 07/3/2023, ông xác định ông có yêu cầu phản tố gồm: Tuyên bố di chúc của ông Lê Trung T do Văn phòng Công chứng Trung tâm chứng nhận số công chứng: 005888/TP/CC-SCC/DC ngày 15/5/2015 là vô hiệu do tại tại thời điểm lập di chúc ông T bị tai biến, không minh mẫn; yêu cầu chia di sản của ông T là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của ông T đối nhà đất tại số D (trệt) và quyền sử dụng đất của ông T đối với thửa đất số 383. Ông yêu cầu được hưởng ¼ giá trị di sản.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông xác nhận cha mẹ của ông T đã chết trước ông T. Ông là con duy nhất của ông T. Hiện ông đang làm việc tại công ty C1 thông tin thuộc Tập đoàn Đ. Ông không tranh chấp, không có yêu cầu nào liên quan đến 02 tài sản ông T, bà Á đã chuyển nhượng khi ông T còn sống và tài sản là thửa đất diện tích 221,2 m², tờ bản đồ số 7, thửa đất số 1951, tọa lạc tại ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ông yêu cầu tuyên bố di chúc của ông Lê Trung T do Văn phòng Công chứng Trung tâm chứng nhận số công chứng 005888/TP/CC-SCC/DC ngày 15/5/2015 là vô hiệu do bản di chúc này được lập tại nhà ông T, không phải lập tại Văn phòng công chứng; dấu vân tay tại bản di chúc không xác định được trong khi bà Á có thể ký chữ ký của ông T nên không đảm bảo ông T là người lập di chúc; ông là con duy nhất nhưng lại không biết gì về việc ông T lập di chúc và do di chúc vô hiệu nên ông yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với 01 tài sản là nhà đất số D (trệt) và thửa đất số 383. Ông yêu cầu bà Á phải giao toàn bộ hai tài sản này cho ông quản lý, mọi việc định đoạt các tài sản này phải có sự thỏa thuận với ông. Ông xác định bà Á có khả năng trong việc quản lý tài sản, quản lý tiền bạc, hiện đang ở một mình và tự sinh hoạt cá nhân, không cần ai giúp đỡ nhưng do bà Á hay quên, thường xuyên suy nghĩ tiêu cực nên ông yêu cầu Tòa án tiến hành giám định sức khỏe, tinh thần của bà Á để làm căn cứ giao cho ông quản lý tài sản.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2023, người làm chứng là bà Phạm Thị Hồng B trình bày: Bà là bạn của ông Lê Trung T và bà Vũ Ngọc Á, cùng sinh hoạt trong câu lạc bộ hưu trí, câu lạc bộ người cao tuổi. Bà là người được ông Lê Trung T và bà Vũ Ngọc Á mời làm người làm chứng cho việc ông Lê Trung T lập di chúc. Ngày 15/5/2015, bà và ông T, bà Á đã đến phòng công chứng để chứng kiến việc ông T lập di chúc. Tại thời điểm lập di chúc, ông T hoàn toàn minh mẫn. Ông T và bà đã được nghe công chứng viên giải thích về quyền, nghĩa vụ của người lập di chúc, người làm chứng. Tại đây, ông T đã trình bày về việc ông T lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho bà Vũ Ngọc Á. Ông T đã trực tiếp ký tên, điểm chỉ vào bản di chúc.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Bị đơn không có chứng cứ chứng minh ông T không minh mẫn vào thời điểm lập di chúc và không có chứng cứ chứng minh di chúc của ông T được lập tại nhà ông T, không phải tại phòng công chứng. Lời khai của người làm chứng và giấy khám sức khỏe của ông T cho thấy ông T minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc. Nếu ông T có lập di chúc tại nhà thì di chúc này vẫn hợp pháp. Pháp luật không quy định người lập di chúc phải báo cho người khác về việc mình lập di chúc. Do đó, các lý do mà bị đơn nêu ra để cho rằng di chúc không hợp pháp là không có cơ sở. Di chúc của ông T đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Nguyên đơn là người thừa kế duy nhất theo di chúc và không có người nào thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Toà án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Ngoại trừ việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Di chúc của ông Lê Trung T đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Kết luận giám định về chữ viết, chữ ký của ông T thể hiện di chúc do ông T viết và ký tên, không có chứng nào cho thấy nguyên đơn đã ký thay ông T như bị đơn nêu ra. Bị đơn không giao nộp được chứng cứ cho thấy bản di chúc của ông T không được lập tại phòng công chứng. Địa điểm lập di chúc không phải điều kiện có hiệu lực của di chúc. Bị đơn là con đã thành niên, có công việc ổn định, có khả năng lao động nên không thuộc trường hợp được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên yêu cầu của bị đơn về việc được hưởng ¼ di sản của ông T không có cơ sở. Bị đơn yêu cầu Tòa án giám định sức khỏe, tinh thần của nguyên đơn để làm căn cứ giao cho bị đơn quản lý tài sản vì nguyên đơn hay quên nhưng bị đơn không nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố nguyên đơn khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc mất năng lực hành vi dân sự, không giao nộp được tài liệu, chứng cứ cho thấy nguyên đơn không có năng lực hành vi dân sự để tham gia tố tụng nên yêu cầu của bị đơn không có cơ sở. Di chúc của ông T có nội dung để lại toàn bộ di sản cho nguyên đơn nên yêu cầu của nguyên đơn về việc được hưởng di sản của ông T theo di chúc là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Vũ Ngọc Á khởi kiện tranh chấp về thừa kế, căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về việc vắng mặt người làm chứng

Người làm chứng là bà Phạm Thị Hồng B đã có lời khai trực tiếp tại Tòa án và yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa nên vắng mặt người làm chứng không gây khó khăn và không ảnh hưởng đến việc Tòa án giải quyết khách quan, toàn diện vụ án.

[3] Về việc bị đơn yêu cầu Tòa án giám định tâm thần đối với nguyên đơn:

Bị đơn xác định nguyên đơn có khả năng trong việc quản lý tài sản, quản lý tiền bạc, hiện đang ở một mình và tự sinh hoạt cá nhân, không cần ai giúp đỡ nhưng do nguyên đơn hay quên, thường xuyên suy nghĩ tiêu cực nên bị đơn yêu cầu Tòa án tiến hành giám định sức khỏe, tinh thần, năng lực hành vi dân sự của nguyên đơn để làm căn cứ giao cho bị đơn quản lý tài sản. Xét, bị đơn không nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố nguyên đơn là người có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi hoặc mất năng lực hành vi dân sự, không giao nộp được tài liệu, chứng cứ làm cơ sở cho việc nghi ngờ nguyên đơn không đủ năng lực hành vi tham gia tố tụng, cần thiết phải giám định năng lực hành vi dân sự nên không có cơ sở để Tòa án trưng cầu giám định năng lực hành vi dân sự đối với nguyên đơn.

[4] Về các yêu cầu phản tố của bị đơn: Bị đơn yêu cầu tuyên bố di chúc của ông Lê Trung T do Văn phòng Công chứng Trung tâm chứng nhận số công chứng 005888/TP/CC-SCC/DC ngày 15/5/2015 là vô hiệu; yêu cầu chia di sản của ông T là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của ông T đối nhà đất tại số D (trệt) và quyền sử dụng đất của ông T đối với thửa đất số 383 theo pháp luật. Xét, các yêu cầu của bị đơn là ý kiến phản đối của bị đơn đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không phải yêu cầu phản tố theo quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án sẽ xem xét các ý kiến của bị đơn cùng với việc giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận di chúc của ông Lê Trung T được lập tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) số công chứng 005889 ngày 15/5/2015 là hợp pháp.

Bị đơn cho rằng tại thời điểm lập di chúc, ông Lê Trung T bị tai biến, không minh mẫn nhưng không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai nại của mình. Theo yêu cầu của bị đơn, Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ tại Bệnh viện N1 nhưng tại văn bản trả lời của bệnh viện N1 thể hiện năm 2015, bệnh viện N1 không tiếp nhận điều trị cho bệnh nhân tên Lê Trung T. Căn cứ Phiếu khám sức khoẻ ngày 25/4/2015 của Bệnh viện quận B thì tại thời điểm khám sức khỏe, ông Lê Trung T “tỉnh, tiếp xúc được, trả lời đúng các câu hỏi”. Lời khai của người làm chứng cũng thể hiện ông T đã tự trình bày với công chứng viên về nguyện vọng để lại tài sản cho nguyên đơn. Do đó, không có cơ sở xác định ông Lê Trung T không minh mẫn, sáng suốt tại thời điểm lập di chúc.

Căn cứ Kết luận giám định số 4472/KL-KTHS của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thì “Chữ ký tại vị trí bên phải lề dưới trang 1, chữ ký và chữ viết họ tên “Lê Trung T” dưới mục “Người lập di chúc” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết họ tên Lê Trung T” trên tài liệu mẫu so sáng ký hiệu M là do cùng một người ký, viết ra”, có đủ cơ sở kết luận ông Lê Trung T đã trực tiếp ký tên, viết họ tên của mình vào bản di chúc, không có cơ sở xác định nguyên đơn đã ký thay ông T tại bản di chúc như bị đơn nêu ra. Việc Kết luận giám định số 4472-1/KL-KTHS về việc giám định dấu vân tay của ông Lê Trung T kết luận “Không thể hiện rõ đặc điểm riêng, không đủ yếu tố thẩm định” không phải căn cứ để kết luận ông T không đồng ý lăn tay vào bản di chúc như bị đơn đã trình bày.

Theo nội dung ghi nhận tại bản di chúc và lời khai của người làm chứng thì ông Lê Trung T lập di chúc tại văn phòng C. Bị đơn cho rằng bản di chúc ngày 15/5/2015 của ông T được lập tại nhà 4B trệt, không phải lập tại văn phòng công chứng nhưng không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự, địa điểm lập di chúc không phải điều kiện có hiệu lực của di chúc nên việc bị đơn cho rằng di chúc của ông T không hợp pháp do không được lập tại văn phòng C là không có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 626 Bộ luật Dân sự, người lập di chúc có quyền “Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”, ông Lê Trung T có quyền chỉ định người thừa kế là nguyên đơn, không chỉ định bị đơn là người thừa kế và không phải thông báo cho bị đơn về việc lập di chúc.

Như vậy, di chúc ngày 15/5/2015 của ông Lê Trung T được lập được lập tại Văn phòng C và được công chứng số 005889 ngày 15/5/2015 trên tinh thần tự nguyện của ông Lê Trung T; tại thời điểm lập di chúc, ông Lê Trung T hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, có người làm chứng là bà Phạm Thị Hồng B xác nhận ghi rõ nội dung: “Tôi chứng kiến công chứng viên có giải thích di chúc cho ông Lê Trung T nghe hiểu và ký tên”; nội dung trong di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội nên đảm bảo về hình thức, nội dung và điều kiện của người lập di chúc theo quy định các điều 627, 630, 632 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận di chúc của ông Lê Trung T được lập tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) số công chứng 005889 ngày 15/5/2015 hợp pháp là có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của bị đơn về việc tuyên bố bản di chúc này vô hiệu là không có căn cứ.

[6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được hưởng di sản của ông Lê Trung T là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của ông Lê Trung T đối với nhà đất tại số D (trệt) X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và quyền sử dụng đất của ông Lê Trung T đối với thửa đất diện tích 1788 m2, thửa số 383, tờ bản đồ số 8 tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 143/2003 ngày 27/11/2003 của Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở là ông Lê Trung T và bà Vũ Ngọc Á đối với nhà đất tại số D (trệt); căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 420810 ngày 14/8/2001, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4362 QSDĐ/LQ, đăng ký thay đổi ngày 01/7/2003 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp, bà Vũ Ngọc Á được chứng nhận được quyền sử dụng phần đất có diện tích 1788 m² đất, thửa số 383, đây là tài sản chung của ông T và nguyên đơn trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, ông T và nguyên đơn có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau đối với quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên, mỗi người có ½ giá trị quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất số D (trệt) và ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa số 383.

Vì di chúc của ông Lê Trung T là hợp pháp nên căn cứ Điều 650 Bộ luật Dân sự, di sản của ông T được chia theo di chúc, không chia theo pháp luật. Cha mẹ của ông T là ông Lê Văn D và bà Lương Thị N đã chết trước ông T, bị đơn là con duy nhất, có khả năng lao động và hiện có công việc ổn định. Căn cứ Điều 644 Bộ luật Dân sự, bị đơn không thuộc trường hợp là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên bị đơn không được hưởng 1/4 di sản của ông Lê Trung T như bị đơn yêu cầu. Nguyên đơn là người duy nhất được ông Lê Trung T chỉ định hưởng thừa kế toàn bộ di sản của ông T nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[7] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận di chúc của ông Lê Trung T lập ngày 15/5/2015 là hợp pháp được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Nguyên đơn được chia thừa kế nhưng thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên nguyên đơn không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 264, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 626, 627, 630, 632, 644, 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án năm 2008; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí Toà án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Vũ Ngọc Á

1.1 Xác định di chúc của ông Lê Trung T được lập tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) số công chứng 005889 ngày 15/5/2015 là hợp pháp.

1.2. Bà Vũ Ngọc Á được hưởng toàn bộ di sản của ông Lê Trung T là ½ giá trị quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất tại số D trệt X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 143/2003 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Lê Trung T và bà Vũ Ngọc Á ngày 27/11/2003 và ½ giá trị quyền sử dụng đất của ông Lê Trung T đối với thửa đất diện tích 1788 m², tờ bản đồ số 8, thửa số 383 tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 420810 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Vũ Ngọc Á ngày 14/8/2001, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4362 QSDĐ/LQ, đăng ký thay đổi ngày 01/7/2003. Bà Vũ Ngọc Á được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Vũ Trung H2 phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

Bà Vũ Ngọc Á được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Đương sự
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1604/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 1604/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà A yêu cầu công nhận di chúc, chia tài sản theo di chúc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger