|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1601/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 4 – 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh thị Thanh Thảo
2. Ông Phạm Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 2956/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1307/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2011/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1991;
Địa chỉ thường trú: Số A, Đường N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: Số I, Đường D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Ngô Hoàng D, sinh năm 1991;
Địa chỉ thường trú: Số A, Đường N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ cư trú: Số G, Đường số C, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà T có đơn xin xét xử vắng vặt, ông D vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2023, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn – Bà Trần Thị Thanh T trình bày:
Bà và ông Ngô Hoàng D chung sống với nhau từ năm 2018, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 136/2018, do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2018. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên bắt đầu từ năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông D thường xuyên rượu chè, ham mê cờ bạc, không chuyên tâm làm ăn dẫn đến C gia đình lâm vào tình trạng thiếu thốn về kinh tế, bản thân bà T vừa phải gánh vác gia đình, vừa tự mình chăm sóc con cái, giữa vợ chồng không còn tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Mâu thuẩn đỉnh điểm vào khoảng năm 2022, bà và ông D đã tách phòng để sinh sống và sinh hoạt riêng, đến tháng 10/2023 thì bà cùng con gái đã dọn về nhà mẹ ruột tại đại chỉ số 94, Đường D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống ổn định đến nay. Qúa trình ly thân bà và ông D không liên lạc, không có biện pháp hàn gắn, không ai quan tâm tới ai, mỗi người tự chăm lo cho cuộc sống của mình. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông D có 01 con chung là trẻ Ngô Minh T1, sinh ngày 22/7/2020. Từ khi ly thân đến nay, trẻ T1 chung sống với bà T, hiện nay bà T đang làm nhân viên của Công ty Cổ phần C1, địa chỉ: Tòa nhà H, 154 - 156 Nguyễn Hữu T2, xã P, huyện N, với mức lương 21.192.450 đồng/tháng, bà hoàn toàn có đủ khả năng nuôi con, do đó đề nghị Tòa án giao trẻ T1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Trước đây bà có yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên hiện nay bà xác định không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi trẻ T1.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Ngô Hoàng D vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông D.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D1. Về con chung: Giao con chung cho bà T được trực tiếp chắm sóc nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn – Bà Trần Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn – Ông Ngô Hoàng D, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại thành phố T do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Hoàng D mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên ông D vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Tòa án đã tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày ngày 14/3/2024. Tại phiên tòa hôm nay, đương sự không có mặt, không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới, không khiếu nại các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và các chứng cứ, tài liệu do Tòa án thu thập. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, bà T và ông D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 136/2018 cấp ngày 24/12/2018. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, hôn nhân của bà T và ông D là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà T cho biết quá trình chung sống bà và ông D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà T và ông D đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, các bên không có biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D để tiến hành hòa giải, tuy nhiên ông D vẫn vắng mặt không rõ lý do. Ngày 15/12/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận được văn bản trình bày ý kiến gửi qua dịch vụ bưu chính viễn thông, ký tên Ngô Hoàng D, nội dung văn bản thể hiện việc ông D đồng ý ly hôn và giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông D cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, văn bản trên không xác nhận chữ ký, không có căn cứ để xác định do ông Ngô Hoàng D ký tên gửi đi, do vậy không có cơ sở để xem xét.
Việc ông D không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án cho thấy ông D không có ý thức tôn trọng pháp luật cũng như không có thiện chí hòa giải đoàn tụ, chứng minh quan hệ hôn nhân giữa các đương sự đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống bà T, ông D có một con chung, tên là Ngô Minh T1, sinh ngày 22/7/2020. Xét con chung đã được bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ thời điểm các bên ly thân đến nay, ông D mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, yêu cầu của bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là có cơ sở để chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[2.4] Về án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220, Khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56; Điều 58; Điều 71, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Trần Thị Thanh T:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Ngô Hoàng D. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 136/2018, do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2018 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Giao con chung tên Ngô Minh T1, sinh ngày 22/7/2020 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
- Quyền, nghĩa vụ của bà T và ông D trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông D không yêu cầu giải quyết nên Toà án không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
- Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0001936 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 1601/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1601/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T xin ly hôn với ông D
