Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày: 31-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Ngọc – Cán bộ hưu trí phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

2. Bà Trần Thị Phối – Cán bộ hưu trí phường Lý Thường Kiệt, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST-HS ngày 04/7/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Dương Hùng Anh C, giới tính: Nam; Sinh ngày 15/02/2002 tại Thị xã A, T. B; Nơi cư trú: 12/16/10 T, phường Đ, Thị xã A, T. B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Dương Hùng Anh T (chết) con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Đặc điểm nhân thân: Ngày 29/6/2018, bị TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 20/01/2020, bị Công an T3 xử phạt 1.750.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”; Ngày 05/5/2020, bị UBND phường N, TX. A xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”; Khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/02/2024 đến ngày 10/3/2024; Bị truy nã bắt tạm giam từ ngày 29/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T3; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Anh Nguyễn Thanh A, sinh ngày 04/4/2007 (có mặt).

Địa chỉ: Khu V, xã N, Thị xã A, T. B.

2.1 Người đại diện hợp pháp cho bị hại dưới 18 tuổi: Bà Hà Thị Thanh T1; Sinh năm 1976, là mẹ ruột bị hai; Nơi cư trú: Khu V, xã N, Thị xã A, T. B. (có mặt).

2.2 Người bảo vệ quyền và lợi ích hộp pháp cho bị hại Nguyễn Thành A1: Bà Lê Tôn Nữ Kim Y – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B bảo vệ cho bị hại Nguyễn Thanh A là người dưới 18 tuổi do trung tâm G (có mặt).

3. Người làm chứng:

3.1 Bà Nguyễn Thị N; Sinh năm 1978; (vắng mặt).

3.2 Anh Nguyễn Quốc N1; Sinh năm 2000; (vắng mặt).

3.3 Chị Dương Thị Thu T2; Sinh năm 2003; (vắng mặt).

Cùng cư trú: 12/16/10 Trần Quang D, phường Đ, Thị xã A, T. B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Dương Hùng A2 CNguyễn Thanh A cùng làm nhân viên tại nhà hàng H1 tại địa chỉ: E A, phường N, thành phố Q. Sáng ngày 17/6/2023, em ruột C là Dương Thị Thu T2 liên lạc với C nhờ chở đồ tại phòng trọ của T2 trên đường T, TP . về nhà tại Thị xã A nên C có ý định mượn xe mô tô biển số 77F1-751.95 của A để chở đồ. C biết A mới mua xe, sợ A không cho mượn để chở đồ nên C nhắn tin “Messenger” đến A hỏi mượn xe mô tô của A để tối chở người yêu đi chơi thì A đồng ý. C nhờ Huỳnh Thị H (chưa rõ địa chỉ, lai lịch) chở C đến nhà hàng H1, trên đường T, thành phố Q rồi hẹn A ra để lấy xe và hẹn đến tối ngày 19/6/2023 trả lại xe cho A. Sau đó, C sử dụng xe mô tô này để chở đồ của T2 về nhà tại thị xã A rồi ở lại đây. Đến sáng ngày 19/6/2023, A có liên lạc với C nói trả lại xe thì C hẹn đến tối cùng ngày sẽ trả. Nhưng đến chiều ngày 19/6/2023, C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô 77F1-751.95 của A làm phương tiện đi lại. C xếp đồ rồi nói dối mẹ là bà Nguyễn Thị N đã tìm được công việc mới tại thành phố Q rồi điều khiển xe mô tô trên rời khỏi nhà, đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Đến tối ngày 19/6/2023, A không thấy C đến trả xe cho mình, A liên lạc với C nhưng không được. Đến sáng ngày 21/6/2023, C đến thành phố Hồ Chí Minh, sau đó do chưa tìm được việc làm nên C đã bán xe mô tô biển số 77F1-751.95 cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 13.000.000 đồng. Số tiền đó đã được C tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 18/8/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô tô biển số 77F1-751.95, nhãn hiệu Honda Winner X, màu sơn: Bạc - Đen - Xanh, số máy: KC34E5038311, số khung: RLHKC4414NY033957, đã qua sử dụng; có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 39.000.000 đồng.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thanh A yêu cầu Nguyễn Dương Hùng Anh C bồi thường số tiền 39.000.000 đồng, hiện C chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSQN ngày 27/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C theo Cáo trạng.

Đề nghị HĐXX: về trách nhiệm hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, của Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường 39.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thanh A và trả lại giấy chứng nhận xe biển số 77F1-751.95 cho Nguyễn Thanh A.

Trợ giúp viên pháp lý bà Lê Tôn Nữ Kim Y bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thanh A3: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo. Tuy nhiên, mong HĐXX xem xét, Gia đình bị hại có hoàn cảnh khó khăn, trong thời gian điều tra và tại phiên tòa hôm nay mặc dù bị cáo chưa bồi thường thiệt hại nhưng bị hại vẫn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, và bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh A số tiền là 39.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với bị hại, người làm chứng và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 17/6/2023, Nguyễn Dương Hùng Anh C đã có hành vi mượn xe mô tô biển số 77F1-751.95 trị giá là 39.000.000 đồng của Nguyễn Thanh A tại phường N, thành phố Q rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C có đủ sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên biết việc mượn tài sản của người khác rồi chiếm đoạt là vi phạm pháp luật, bị cáo đã lợi dụng lòng tin của anh Nguyễn Thanh A để mượn tài sản của A rồi chiếm đoạt tài sản có trị giá 39.000.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Xét lời người bảo vệ trợ giúp viên pháp lý cho bị hại thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng để xử phạt bị cáo và bồi thường cho bị hại, được HĐXX xem xét đầy đủ toàn diện, cân nhắc khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo và bồi thường cho bị hại theo quy định.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự ở địa phương nên cần phải bị xử lý theo pháp luật hình sự, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu; Không có tình tiết tăng nặng: Có tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có thời gian nhìn nhận lỗi lầm của mình và sửa chữa để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Thanh A đem bán lấy tiền tiêu xài, tài sản không thu hồi được, bị hại A yêu cầu bị cáo phải bồi thường theo định giá tài sản bị chiếm đoạt. Do đó buộc bị cáo Chung có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Thành A1 số tiền 39.000.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Trả lại Giấy chứng nhận xe biển số 77F1-751.95 cho Nguyễn Thanh A.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Dương Hùng A2 C bị kết án về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và phải bồi thường cho bị hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, 589 của Bộ luật dân sự và căn cứ áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/4/2024.
  3. Về trách nhiện dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Thanh A số tiền 39.000.000 đồng
  4. Xử lý vật chứng: Trả lại cho Nguyễn Thanh A: 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 77000135, tên chủ xe: Nguyễn Thanh A - 2007, địa chỉ: A, N, A; biển số đăng ký: 77F1-751.95, nhãn hiệu: Honda, số loại: WinnerX. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2024 của chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn).
  5. Án phí:
    • 5.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C phải chịu 200.000 đồng.
    • 5.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Dương Hùng Anh C phải chịu 1.950.000 đồng.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người bảo vệ và người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
    • 7.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
    • 7.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Lê Thị Ngọc Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm a, khoản 1, Điều 175 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger