Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 160/2024/HSST

Ngày: 28/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân.
  2. Ông Huỳnh Văn Bé.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2024/HSST, ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Trần Thiện A, sinh ngày 03/6/1989. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Phạm Anh D và bà Trần Tri Bích T; Anh chị em ruột có 04 người (kể cả bị cáo); bị cáo chưa có vợ.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành án tại trại giam P tỉnh Bình Dương đến ngày 30/12/2021 chấp hành xong.

Nhân thân: Năm 2011, Ủy ban nhân dân Thành phố H quyết định đưa vào cơ sở gío dục 18 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/12/2023 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Trần Thiện A 1 đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, A gọi điện thoại vo số 0354.668.xxx gặp một người thanh niên tên T1 (Không rõ lai lịch, ịa chỉ) hỏi mua ma túy đá với giá 1.000.000 đồng, T1 đồng ý và hẹn gặp tại khu vực ồng ruộng thuộc ấp Đ, xã T, huyện C, TP. Hồ Chí Minh. Lúc này, A iều khiển xe gắn máy bin sô 51R5-2618 đi đến điểm hẹn đưa cho T1 số tiền 1.000.000 đồng, rồi đi về nồi chờ T1 gọi điện thoại để lấy ma túy. Đến khoảng 05 giờ 20 phút ngày 15/12/2023, T1 gọi lại cho A kêu i ến khu vực trước cổng Trường tiểu học T2, thuộc ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh lấy ma túy đá ược để trong bao thuốc lá hiệu Jet, bn ngoài bao thuốc lá có 02 ông thủy tỉnh được quấn băng keo đen. A liền điều khiển xe gắn máy biển số 51R5-2618 đi đến iểm hẹn thấy có 01 bao thuốc lá hiệu Jet như T1 mô tả, A nhặt lên kiêm tra thì thấy bên trong bao thuốc 1 hiệu Jet có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá và cất giấu vào túi quần bên trái phía trước của A đang mặc rồi điều khiển xe đi về khi đến đoạn đường 707, thuộc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an kim tra bắt quả tang vào lúc 05 giờ 45 phút cùng ngày. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Phạm Trần Thiện A tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện C: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ. Kết luận giám định số 41/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám ịnh là ma ty ở thể rắn, có khối lượng 2,0002g loại Methamphetamine.Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS.CC ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Phạm Trần Thiện A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trần Thiện A thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 139/CT-VKS.CC ngày 14/5/2024 nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, không oan sai gì cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Trần Thiện A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên khi lượng hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết sau:

Tình tiết tăng nặng: Năm 2018, bị cáo bị xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 30/12/2021 chấp hành án xong nên lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Trần Thiện A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Phạm Trần Thiện A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Trần Thiện A mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 29/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 02 ống thủy tinh.
  • + Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (Một) xe gắn máy biển số: 51R5-2618, số máy: VMSA4A-H004419, số khung: SAI0DH7H004419 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung số Imel: 358176102245814/01.

Đối với người thanh niên tên T1 là người bán ma túy cho A (hiện chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra ra thông báo truy tìm, đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo A không tham gia tranh luận.

Bị cáo A nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Trần Thiện A đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố, cụ thể:

Ngày 15/12/2023, A mua 01 gói ma túy đá của người thanh niên tên T1 (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng và cất giấu vo ti quần bên trái phía trước của A đang mặc rồi điều khiển xe đi về khi đến đoạn đường B, thuộc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an kim tra bắt quả tang A đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua giám định số ma ty thu giữ của bị cáo A là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0002g loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bằng những hình vi trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Trần Thiện A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn có tiền mua chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghiện ma túy và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (Năm 2011, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 18 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”).

Tình tiết tăng nặng:

Tình tiết tăng nặng: Năm 2018, bị cáo bị xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 30/12/2021 chấp hành xong nên lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Trần Thiện A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về vật chứng vụ án:

01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 29/24 có chữ kí niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 02 ống thủy tinh, là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

01 (Một) xe gắn máy biển số: 51R5-2618, số máy: VMSA4A-H004419, số khung: SAI0DH7H004419, là tài sản của bị cáo A, bị cáo mua lại của người không rõ họ và tên, qua xác minh ông Bùi Công D1 đứng tên chủ sở hữu nhưng ông D1 đã bán chiếc xe trên cho người không rõ lai lịch, ông không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo truy tìm nhưng đến nay không ai đến để giải quyết, bị cáo dùng làm phương tiện mua chất ma túy, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo A sẽ giải quyết bằng vụ tranh chấp khác là phù hợp.

01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung số Imel: 358176102245814/01, bị cáo dùng liên lạc mua chất ma tuý, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 lẽ ra cần phải phạt bị cáo A một số tiền để nộp vào Ngân sách Nhà nước, tuy nhiên xét thấy bị cáo A có hoàn cảnh khó khăn, mua chất ma túy để sử dụng không có thu lợi bất chính nên không phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với người thanh niên tên T1 là người bán ma túy cho A (hiện chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm, đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thống nhất, Hội đồng xét xử xét thấy xử lí trên là phù hợp nên không xét.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Phạm Trần Thiện A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trần Thiện A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Trần Thiện A 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 29/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 02 ống thủy tinh.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) xe gắn máy biển số: 51R5-2618, số máy: VMSA4A-H004419, số khung: SAI0DH7H004419, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo A đối với chiếc xe trên sẽ giải quyết bằng vụ tranh chấp khác.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung số Imel: 358176102245814/01.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc các bị cáo: Phạm Trần Thiện A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- THẨM

+ TAND TP. H;

- TÒA

+ VKSND TP. H;

+ VKSND huyện Củ Chi;

+ Công an huyện C;

+ Chi cục THADS huyện C;

- Bị cáo;

- Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HSST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 160/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trần Thiện A về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger