Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/DS-PT

Ngày 24 tháng 7 năm 2024

V/v “Tranh chấp về yêu cầu mở lối

đi chung qua bất động sản liền kề”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

Ông Đặng Văn Quyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS- ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 141/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2024/QĐ-PT ngày 18/6/2024 Quyết định tạm ngừng số 108/2024/QĐ-PT ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1986. Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T: Ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1953. Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  3. Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  4. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  5. Ông Trần Trung K (tên gọi khác Trần Xuân K1), sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  6. Chị Dương Thị T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
  7. Ủy ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Vũ Trí T2- Chủ tịch UBND xã đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
  8. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Đào Quang D1- Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn là anh Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn P trình bày: Năm 2019, gia đình anh có mua mảnh đất diện tích là 616m² của vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị C1 tại thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Diện tích đất này đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho vợ chồng ông D, bà C1 năm 2001. Phía bắc giáp nhà anh L1, chị N, phía tây giáp nhà ông H bà M, phía nam giáp nhà anh T3 chị H1, phía đông giáp nhà anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T. Nguồn gốc diện tích đất này là của gia đình ông D nhận chuyển nhượng của gia đình ông T4, năm 1996. Ông D sử dụng từ đó ổn định lâu dài và có đường đi qua bờ ao là đất của ông Trần Trung K (đã chuyển nhượng cho ông C, hiện đứng tên của anh P1, chị T). Từ khi được chuyển nhượng từ vợ chồng ông D, bà C1, gia đình anh đã sử dụng trồng cây và đổ đất trên diện tích đất đã mua. Ranh giới thửa đất được thể hiện với các hộ liền kề là tường vành lao kiên cố, đất của gia đình anh nằm bên trong các hộ như ông H bà M, anh T5 chị H1, anh L1 chị N thì không thể mở đường đi qua được vì các thửa đất đều nằm phía trong đường chỉ có đất nhà anh P1, chị T là mở lối đi ra ngoài đường ngắn nhất và tiện nhất, anh đã nhiều lần thỏa thuận với ông C và vợ chồng anh P1, chị T về việc mua đường đi qua đất nhà anh P1, chị T nhưng anh P1, chị T không đồng ý. Nay anh yêu cầu Toà án buộc anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T mở lối đi cho gia đình anh với diện tích chiều rộng lối đi là 3m và chiều dài là 20m. Tổng diện tích lối đi là 60m², anh đồng ý trả tiền cho vợ chồng anh P1, chị T theo giá đất như trong buổi định giá ngày 30/10/2023. Ngoài ra, anh yêu cầu gia đình anh P1, chị T, ông C, bà L phải tháo dỡ phần công trình xây trên phần lối đi chung từ đường liên thôn vào đất gia đình anh P1, chị T để anh có lối đi ra đường liên thôn.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T thống nhất trình bày: Vợ chồng anh chị và anh Nguyễn Văn P không quan hệ họ hàng gì. Phần diện tích đất 419m² đất (trong đó có 360m² đất ở và 59m² đất vườn) đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai xác nhận chỉnh lý tại trang 04 mang tên vợ chồng anh chị ngày 28/07/2022 có nguồn gốc là của ông Trần Trung K (tức Trần Xuân K1). Năm 2002, ông Nguyễn Văn C có mua phần diện tích đất này. Khi mua thì phần diện tích đất này là ao thả cá. Đường đi vào phần diện tích đất này đi qua cửa nhà của ông C. Không có đường đi qua phần đất nhà ông K1 sang đất nhà ông D. Năm 2010, vợ chồng anh chị kết hôn thì ông C có cho vợ chồng anh chị phần diện tích đất này. Năm 2014, thì vợ chồng anh chị được ông C cho xây nhà trên đất của ông C và vợ chồng anh chị có làm sân và cổng vào phần đường đi chung vào đất mà ông C mua của ông K1. Việc vợ chồng anh chị xây công trình vào đường đi chung vào đất nhà ông K1 đã bán cho ông C, thì thôn C, UBND xã không có ý kiến gì và cũng không có ra quyết định xử phạt hành chính hay buộc tháo dỡ công trình trên. Vì thực tế chỉ gia đình anh chị đi con đường này, nhà ông Nguyễn Văn T6 không đi đường này.

Trước khi anh P khởi kiện ra Tòa thì anh P không sang gia đình anh chị đặt vấn đề để mở lối đi qua ra đường chính. Đến tháng 10/2021 thì gia đình anh chị có được UBND xã Y mời tới nhà văn hóa thôn để làm việc về việc anh P yêu cầu mở lối đi. Trong quá trình làm việc thì giữa hai bên không thỏa thuận được việc mở lối đi nên anh P đã khởi kiện ra Tòa án. Nay anh P yêu cầu vợ chồng anh chị phải mở lối đi cho anh P qua đất của gia đình anh chị ra đường liên thôn thì anh chị không đồng ý. Lý do, hiện ông C đã xây 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 45m², lợp proximang chưa hoàn thiện là mục đích để ông C và bà L ở. Hơn nữa, do quá trình khởi kiện tại Tòa án nên hai bên có mâu thuẫn khó nhìn mặt nhau. Vì vậy, nếu mở đường đi qua đất nhà anh chị sẽ dễ gây xích mích, ảnh hưởng tới cuộc sống của gia đình anh chị. Hơn nữa, phần diện tích đất nhà anh chị nhỏ hơn các hộ xung quanh, nếu cắt đất làm đường đi cho anh P thì phần đất còn lại không đủ cho hai con của anh chị sau này. Anh P có thể mở lối đi qua sau lưng nhà ông Phạm Văn H2 ra đường đê hoặc trước cửa nhà ông H2, vì ông H2 đã cho em trai ông H2 là Phạm Văn T7 07m chiều rộng phần cuối đất nhà ông H2. Do không đồng ý với yêu cầu mởi lối đi nên anh chị không đồng ý tháo dỡ công trình trên phần diện tích lối đi từ đường liên thôn vào đất nhà anh chị. Trường hợp nhà nước yêu cầu tháo dỡ thì gia đình anh chị sẽ đồng ý.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T là ông Nguyễn Đức B thống nhất quan điểm trình bày của chị T và không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C trình bày: Năm 2002 gia đình ông có mua mảnh đất của ông Trần Trung K, diện tích 419 m² đã được UBND huyện L cấp GCNQSD đất cho hộ ông Trần Trung K nhưng gia đình ông vẫn chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Gia đình ông sử dụng từ năm đó đến nay không có tranh chấp gì với ai. Trong GCNQSD đất không thể hiện đường đi vào trong đất nhà anh Nguyễn Văn P. Đến năm 2010 anh P1 và chị T kết hôn thì ông tặng cho vợ chồng anh P1 chị T diện tích đất này. Ngày 28/07/2022, vợ chồng anh P1, chị T được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác nhận chỉnh lý tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất này. Nay anh P làm đơn khởi kiện ra Tòa đề nghị mở lối đi qua đất của gia đình anh P1, chị T ông xác định đất đã cho vợ chồng anh P1, chị T nên quyền quyết định là của anh P1, chị T. Các tài sản trên đất của gia đình ông là do anh P1 chị T làm khi làm nhà năm 2016.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị L trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn C, bà nhất trí với lời trình bày của ông C, bà không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị T1 trình bày: Chị là vợ anh Nguyễn Văn P. Ý kiến của anh P cũng là ý kiến chị, chị không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D trình bày: Gia đình ông có mảnh đất 616m² ông quản lý và sử dụng từ năm 1996 không có tranh chấp với ai đến năm 2019 gia đình ông có chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn P và chị Dương Thị T1. Mảnh đất của gia đình ông đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001. Tứ cận của thửa đất như sau: Phía bắc giáp nhà anh L1 chị N, phía tây giáp nhà ông H2 bà M, phía nam giáp nhà anh T5 chị H1, phía đông giáp nhà anh P1, chị T. Từ khi sử dụng đất nhà ông có đường đi qua bờ ao là đất của ông Trần Trung K (sau này chuyển nhượng cho ông C) lối đi đó được chính quyền địa phương xác nhận và các hộ gia đình có đất liền kề làm chứng. Ranh giới thửa đất được thể hiện với các hộ liền kề là tường vành lao kiên cố, đất của gia đình ông nằm bên trong các hộ như ông H2 bà M, anh T5 chị H1, anh L1 chị N thì không thể mở đường đi qua được vì các thửa đất đều nằm phía trong đường chỉ có đất nhà anh P1, chị T là nằm phía ngoài đường. Nay anh P khởi kiện để mở lối đi ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam chấp nhận yêu cầu của anh P mở lối đi cho anh P qua đất nhà anh P1, chị T. Tại phiên tòa ông D vẫn giữ nguyên quan điểm trên. Tại phiên tòa hôm nay ông không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị C1 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn D ý kiến của ông D cũng là ý kiến của bà. Bà không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Trung K (Trần Xuân K1) trình bày: Gia đình ông có mảnh đất 419m² tại thôn C, xã Y gia đình đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông C. Trước khi chuyển nhượng gia đình ông sử dụng ổn định không có tranh chấp với ai và có đường đi vào đất nhà ông Nguyễn Văn D (nay đã chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn P). Khi làm hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất lúc đó ông không có nhà nên ông đã nhờ anh trai ruột ông là ông Trần Trung Á làm các thủ tục đo đạc đề nghị cấp GCNQSD đất trong sơ đồ cấp GCNQSDĐ không thể hiện đường đi vào đất nhà ông D nhưng trên thực tế vẫn có đường đi vào nhà ông D. Nay anh P khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn C mở đường đi cho anh P, ý kiến của ông nhất trí và cũng đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn C mở đường cho anh Nguyễn Văn P đi qua. Mảnh đất của gia đình ông mang tên hộ gia đình nhưng bà Nguyễn Thị H3 đã chết năm 2000 vợ chồng ông có 2 con là Trần Văn N1, sinh năm 1986 và Trần Thị H4 sinh năm 1989 khi ông bán đất cho ông C các con ông còn nhỏ không liên quan gì đến các con ông. Ông đề nghị Tòa án không đưa các con ông vào tham gia tố tụng trong vụ án này. Đến ngày 28/7/2022 mới làm thủ tục sang tên cho anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T. Khi được cấp GCNQSDĐ ông đang ở trong quân đội ông có nhờ anh trai là ông Trần Trung Á làm các thủ tục đo đạc việc ông Á có để đường đi hay không ông không được biết và theo ông thì đất ở là phải có đường đi.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân (UBND) xã Y do ông Vũ Văn T8 đại diện theo pháp luật trình bày: Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Căn cứ vào đơn xin đăng ký QSDĐ của hộ ông Trần Trung K năm 2001 cho thấy thửa đất mà hộ ông Trần Trung K đang sử dụng và được cấp GCNQSDĐ tại thôn C xã Y, tại Quyết định số 663/QĐ – UB(H) ngày 24/10/2001, có số vào sổ 00425, sê ri Q 420646 diện tích 419m² ( trong đó 360m² đất ở, đất vườn 59m² có nguồn gốc ông cha để lại. Qua hồ sơ cấp GCNQSDĐ sơ đồ đo vẽ không thể hiện đường đi tiếp vào các hộ ở vị trí liền kề nối tiếp bên trong. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Trung K đảm bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Về lối đi anh P yêu cầu mở qua đất nhà anh P1, chị T là lối đi ngắn nhất, thuận tiện nhất. Ngoài việc mở lối đi qua nhà anh P1, chị T ra thì anh P có thể yêu cầu mở lối đi qua các hộ khác tuy nhiên khoảng cách xa hơn và không thuận tiện bằng lối đi qua nhà anh P1, chị T. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn D năm 2000 không có lối đi là do công dân tự kê khai hơn nữa phần đất của ông D, ông K không ở nên đến khi xảy ra tranh chấp thì UBND xã mới nắm được. Về tài sản trên diện tích lối đi từ đường liên thôn vào đất nhà anh P1, chị T (đất nhận chuyển nhượng từ ông Trần Xuân K1) UBND xã không nắm được, ông C, anh P1, chị T không xin phép UBND xã khi xây dựng, UBND xã không có biện pháp gì can thiệp hay xử lý. Trường hợp phải mở lối đi qua đất nhà anh P1, chị T thì UBND xã sẽ xem xét xử phạt và yêu cầu anh P1, chị T tháo dỡ các công trình đã xây dựng trái phép. Đồng thời áp dụng biện pháp buộc trả lại hiện trạng đất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L do ông Đặng Văn N2- Chủ tịch UBND huyện đại diện theo pháp luật ủy quyền cho ông Đào Quang D1 trình bày:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Căn cứ vào đơn xin đăng ký QSDĐ của hộ ông Trần Trung K năm 2001 cho thấy thửa đất mà hộ ông Trần Trung K đang sử dụng và được cấp GCNQSDĐ tại thôn C xã Y tại Quyết định số 663/QĐ- UB(H) ngày 24/10/2001, có số vào sổ 00425, sê ri Q 420646 diện tích 419m² (trong đó 360m² đất ở, đất vườn 59m² có nguồn gốc ông cha để lại. Qua hồ sơ cấp GCNQSDĐ sơ đồ đo vẽ không thể hiện đường đi tiếp vào các hộ ở vị trí liền kề nối tiếp bên trong. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Trung K đảm bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Diện tích trong GCNQSDĐ là 419m². Hiện nay diện tích đo thực tế là 447m² diện tích tăng lên 28m² là do sai số đo đạc khi cấp GCNQSDĐ là đo đạc bằng phương pháp thủ công nay đo đạc bản đồ địa chính chính quy nên diện tích tăng. Tại phiên tòa hôm nay ông Đào Quang D1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 30/10/2023 bà Trần Thị L2- Trưởng thôn C, xã Y cung cấp: Mảnh đất 616m² tại Thôn C, xã Y là đất của anh Nguyễn Văn P nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn D và bà P2 Chị C1. Mảnh đất của anh Nguyễn Văn P nằm phía bên trong đất của anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T. Hiện nay đất của anh P không có đường đi vào. Ngày xưa các hộ kê khai để được cấp GCNQSDĐ thì các gia đình tự kê khai và đã được cấp GCNQSDĐ thì đất của ông K không có đường đi vào đất của anh P. Nay anh P có đơn gửi Tòa án nhân dân huyện Lục Nam yêu cầu anh P1, chị T mở đường đi cho anh P đi qua đất của anh P1, chị T ý kiến của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Mảnh đất của anh Nguyễn Văn P ngoài đường đi qua mảnh đất của anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T có thể mở qua một số gia đình khác nhưng mở qua nhà anh P1, chị T là thuận tiện nhất. Trên thực tế của địa phương đường đi từ đường liên thôn vào ngõ từ 2,5 đến 03m. Còn theo tiêu chí của nông thôn mới thì khi mở lối đi phải từ 03m trở lên.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Hiện trạng thửa đất và các tài sản trên đất của anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T mà anh Nguyễn Văn P yêu cầu mở lối đi có các tài sản trên đất gồm:

  • 01 cây mít có đường kính gốc 05cm;
  • 02 khóm C;
  • 06 cây Bưởi có đường kính gốc từ 05-07cm;
  • 01 cây Hồng Xiêm chiều cao 1,2m;
  • 10 cây gỗ Lát cao từ 01-02m;
  • 01 công trình nhà tạm loại B kích thước: Dài 9,76m, rộng 04m, cao 2,35m, tường xây 10cm, lợp ngói proximang, nền đất, tường gạch không chát.

Trên diện tích đất không có lối đi sang đất nhà anh Nguyễn Văn P.

Lối đi anh Nguyễn Văn P yêu cầu mở qua đất nhà anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T có đặc điểm như sau: Phía nam giáp đất nhà ông T6 có chiều dài 20,73m² (có vành lao nhà anh T6 bao quanh), phía đông giáp đường giao thông có chiều rộng 3m (đường giao thông nằm trên đất của anh Nguyễn Văn P1), phía bắc giáp với đất nhà anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T có chiều dài 20,26m, phía tây là tường vành lao bao quanh đất nhà anh Nguyễn Văn P1 có chiều rộng 3m. Tổng diện tích lối đi anh P yêu cầu anh P1, chị T mở đường là 60,78m².

Trên phần lối đi chung từ đường liên thôn vào đất nhà anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T, gia đình anh P1, chị T đã xây dựng các công trình và trồng cây trên đất gồm:

  • 01 trụ cổng có lợp ngói móc, khung nhôm (trụ cổng cao tầm 03m);
  • Một giàn hoa giun, một phần sân lát gạch bổ 40 x 40 cm;
  • Một bờ bó vỉa sân cao 15cm;
  • 16 cây Đinh Lăng;
  • 03 cây cau.

* Kết quả định giá:

Ngày 30/10/2023 Hội đồng định giá tài sản đã định giá đối với tài sản tranh chấp, kết quả định giá như sau:

Trị giá 01m² đất ở có giá 3.500.000 đồng. Trị giá 01m2 đất vườn có giá 1.750.000 đồng.

Tài sản trên phần đất anh P yêu cầu mở lối đi qua có giá:

  • 01 cây mít có đường kính gốc 05cm có giá 320.000 đồng;
  • 02 khóm C có giá 174.000 đồng;
  • 06 cây Bưởi có đường kính gốc từ 05-07cm có giá 1.235.000 đồng;
  • 01 cây Hồng xiêm chiều cao 1,2m có giá 70.000 đồng;
  • 10 cây gỗ Lát cao từ 01-02m có giá 450.000 đồng;
  • 01 công trình nhà tạm loại B kích thước: Dài 9,76m, rộng 04m, cao 2,35m, tường xây 10cm, lợp ngói proximang, nền đất, tường gạch không chát có giá 48.019.200 đồng

Với nội dung trên, Bản án dân sự số 03/2024/DS- ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị C1, bà Vũ Thị L, ông Trần Trung K, Ủy ban nhân dân xã Y, Ủy ban nhân dân huyện L là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T.

[2.1]. Về nội dung vụ án: Về nguồn gốc lối đi vào đất của anh Nguyễn Văn P: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định lối đi từ đường liên thôn đi qua đất nhà ông C đi qua đất nhà ông K để vào đất gia đình anh P đã có từ năm 1984 đến khi các hộ gia đình được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000. Nhà nước có chính sách để các hộ tự kê khai để cấp GCNQSDĐ thì hộ ông Trần Trung K đã nhờ anh trai là ông Trần Trung Á cùng cán bộ thôn xã đo đạc mảnh đất nhưng ông Á đã không để đường đi và UBND huyện L đã cấp GCNQSDĐ không có lối đi vào đất gia đình anh P. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn C năm 2000 cũng thể hiện có đường đi vào phần đất của gia đình anh Nguyễn Văn P1.

Gia đình anh P được ông Nguyễn Văn D chuyển nhượng cho năm 2019 đến hiện tại không có lối đi vào thửa đất. Diện tích đất của gia đình anh Nguyễn Văn P nằm phía trong đất nhà anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T và được bao vây bởi các bất động sản của các hộ anh Nguyễn Văn P1, ông Phạm Văn H2, ông Nguyễn Văn P1 và ông Nguyễn Văn T9. Khi anh P sử dụng thửa đất thì phải đi nhờ qua đất của hộ gia đình khác. Ngoài lối đi qua đất nhà anh P1, chị T để ra đường liên thôn thì đất anh P không có lối đi nào khác thuận tiện hơn và hợp lý hơn. Đối chiếu quy định của pháp luật và nhu cầu sử dụng đất của gia đình anh Nguyễn Văn P có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu mở lối đi của anh Nguyễn Văn P là có căn cứ và được chấp nhận theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật dân sự.

Việc mở lối đi với chiều rộng là bao nhiêu cần xem xét điều kiện thực tế ở địa phương nơi có bất động sản. Theo UBND xã Y cho biết đường đi thực tế ở nông thôn trên địa bàn xã rộng từ khoảng 2,5m đến 3m, theo tiêu chuẩn của mở ngõ theo nông thôn mới là 3,5m và trên bản đồ địa chính đường giao thông mở để đi vào đất mà vợ chồng anh P1, chị T nhận chuyển nhượng của ông Trần Xuân K1 có chiều rộng là 2,8m. Đối chiếu với thực tế và những căn cứ của pháp luật, HĐXX thấy cần mở lối đi có chiều rộng bằng chiều rộng của lối đi từ đất nhà anh P1, chị T ra đường liên thôn là có căn cứ chấp nhận theo Điều 254 của Bộ luật dân sự. Phần lối đi được mở với tứ cận như sau: Phía Nam giáp đất nhà ông T6 có chiều dài 20,73m, phía Đông giáp đường giao thông có chiều rộng 2,8m, phía Bắc giáp với đất nhà anh Nguyễn Văn P1 có chiều dài 20,24m, phía Tây giáp đất nhà anh P có chiều rộng 2,8m. Tổng diện tích lối đi là 56,2m².

Anh P phải trả anh P1 và chị T giá trị bằng tiền đối với diện tích đất 56,2 m² và bồi thường giá trị các tài sản trên diện tích đất này. Cụ thể:

+ Về giá trị bồi thường diện tích đất, HĐXX thấy phần diện tích đất của anh P1, chị T có diện tích 419m² (trong đó có 360m² đất ở và 59m² đất vườn) để không ảnh hưởng tới phần diện tích đất ở của gia đình anh P1, chị T nên phần diện tích đất mở lối đi sẽ được tính vào phần diện tích 59m² đất vườn trong tổng diện tích đất của anh P1, chị T. Theo kết quả định giá thì đất vườn có giá 1.750.000 đồng/m². Do đó số tiền anh P phải thanh toán cho anh P1, chị T là 56,2m² x 1.750.000 đồng/1m² = 98.350.000 đồng.

Về tài sản trên đất: Anh P phải thanh toán trả cho anh P1, chị T tổng giá trị tài sản trên phần diện tích đất mở lối đi là 50.268.200 đồng. Anh P được phép tháo dỡ ngôi nhà tạm và di dời cây cối trên diện tích đất 56,2 m² để làm lối đi.

Tổng giá trị đất và tài sản anh P phải bồi thường cho anh P1, chị T khi mở lối đi là: 148.618.200 đồng.

Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P. Buộc anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T phải dành một phần đất có diện tích 56,2m² nêu ở trên để mở lối đi cho anh Nguyễn Văn P là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2] Anh P1 và chị T cho rằng việc anh P khởi kiện đối với anh P1 và chị T chưa được hòa giải ở địa phương thì thấy đây không phải tranh chấp quyền sử dụng đất, mà nguyên đơn khởi kiện để thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật dân sự. Do đó yêu cầu khởi kiện của anh phú không cần phải hòa giải cơ sở theo quy định của Luật đất đai.

[2.3] Tuy nhiên Bản án sơ thẩm có thiếu sót: Bản án đã tuyên “Anh Nguyễn Văn P được quyền quản lý, sử dụng 01 cây mít có đường kính gốc 05cm, 06 cây Bưởi có đường kính gốc từ 05-07cm, 01 cây Hồng Xiêm chiều cao 1,2m, 10 cây gỗ Lát cao từ 01-02m”. Mặt khác, Bản án lại tuyên “Buộc anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ tháo dỡ ngôi nhà tạm và di rời các cây cối liên quan đến lối đi của gia đình anh P, anh P1, chị T phải sử dụng đất đúng ranh giới thửa đất, trường hợp rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành để không làm ảnh hưởng đến lối đi”. Việc tuyên như vậy là mâu thuẫn và gây khó khăn cho việc thi hành án.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh P nhận chịu án phí DSST nên cần ghi nhận sự tự nguyện của anh P. Nên cần sửa bản án sơ thẩm về án phí DSST theo hướng buộc anh P phải chịu án phí DSST theo quy định.

[2.5] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS, sửa Bản án bản án sơ thẩm số 03/2024/DS- ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của TAND huyện Lục Nam về án phí sơ thẩm và tuyên về phần tài sản trên đất như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.

[3] Về án phí DSPT: Do sửa Bản án sơ thẩm nên anh Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29- Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T. Sửa bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 165; Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 245; Điều 254 của Bộ luật dân sự; Điều 170 và Điều 171 Luật đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P.

Buộc anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T phải dành một phần đất có diện tích 56,2 m² để mở lối đi cho anh Nguyễn Văn P. Lối đi được mở có tứ cận giáp ranh như sau: Phía Nam giáp đất nhà ông T6 (có vành lao bao quanh); phía Đông giáp đường giao thông; phía Bắc giáp với đất nhà anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T và phía Tây giáp đất nhà anh P. (Có sơ đồ lối đi kèm theo bản án).

Anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo pháp luật về đất đai.

2. Buộc anh Nguyễn Văn P phải trả cho anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị T tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 148.618.200 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu, sáu trăm mười tám nghìn, hai trăm đồng). Anh P được phép tháo dỡ ngôi nhà tạm và di dời cây cối trên diện tích đất 56,2 m² để làm lối đi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về chi phí tố tụng:

Anh Nguyễn Văn P phải chịu 14.912.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Xác nhận anh P đã nộp đủ số tiền này.

4. Về án phí:

+ Án phí DSST: Anh Nguyễn Văn P phải chịu 7.430.910 đồng án phí DSST. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0013303 ngày 11/10/2021 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Anh P còn phải nộp 5.930.910 đồng.

+ Án phí DSPT: Anh Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí DSPT.

Hoàn trả Nguyễn Văn P1 và chị Nguyễn Thị T số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008072 ngày 30/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP..

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề

  • Số bản án: 160/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi chung qua bất động sản liền kề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger