TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày 22 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thu Hằng.
Bà Bùi Lê Phương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trung C Tên gọi khác: Chuột); sinh ngày 19/9/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; căn cước công dân số: 04609701279; nơi ĐKNKTT: Số B N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú hiện tại: Số I kiệt A T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M và bà Trần Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án:
- - Ngày 07/3/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 35/2019/HS-ST);
- - Ngày 09/11/2022, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 87/2022/HS-ST);
Nhân thân:
- - Ngày 08/01/2013, bị Công an phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi “Chấn lột tiền của học sinh” (Quyết định số 01161);
- - Ngày 21/9/2017, bị Công an phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 046067);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Đức T1, sinh ngày 17/6/1991 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; căn cước công dân số: [...]; nơi ĐKNKTT: Số B N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú hiện tại: Số I kiệt A T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M và bà Trần Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 09/11/2022, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 87/2022/HS-ST);
Nhân thân:
- - Ngày 01/11/2017, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC);
- - Ngày 18/12/2017, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (Quyết định số 0002002/QĐ-XPVPHC);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 cho đến nay; có mặt.
* Bị hại:
- - Chị Lê Thị Vy T2, sinh năm: 2003; nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi tạm trú: Số C P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Chị Ngô Thị H, sinh năm: 2001; nơi cư trú: Xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Số C Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Anh Hồ Khắc H1, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Số D Á, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Chị Rcom Ha S, sinh năm: 2001; nơi cư trú: Bôn C, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi tạm trú: Số B T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Chị Đặng Thị Mỹ N, sinh năm: 2005; nơi cư trú: Xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nơi tạm trú: Số G P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Anh Trần Tiến Đ, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Xã N, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi tạm trú: Số C kiệt B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- - Chị Phạm Thị Thanh H2, sinh năm: 2002; nơi cư trú: Xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Số B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
* Người làm chứng:
- - Bà Cao Thị T3; sinh năm: 1972; vắng mặt.
- - Ông Bảo H3; sinh năm: 1974; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 là hai anh em ruột và đều không có nghề nghiệp. Do đó, để có tiền tiêu xài cá nhân, cả hai rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023, C và T1 đến đường N, trước khu vực ký túc xá của trường Cao đẳng Y, thuộc phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ đến 10 giờ, ngày 10/09/2023, cả hai đi bộ đến địa điểm trên, T1 đứng cảnh giới còn C đi đến vị trí xe mô tô HondaWave, màu xanh, biển số 37L2-117.23 của anh Hồ Khắc H1 dùng tay giật dây điện của xe rồi nổ máy chạy đến chở T1 tẩu thoát. Sau đó, C giao xe này cho T1 mang đến cơ sở thu mua phế liệu ở địa chỉ A N, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế bán cho chị Cao Thị T3 lấy số tiền 500.000 đồng rồi chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe này, chị T3 đã bán lại cho anh Bảo H4 và anh H3 đã tháo rã bán sắt vụn nên không thu hồi được.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ đến 10 giờ, ngày 19/10/2023, cả hai đi bộ đến địa điểm trên, T1 đứng cảnh giới còn C đi đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Megyci, màu xanh, biển số 81K1-9039 của chị Rcom Ha S dùng tay giật dây điện của xe rồi nổ máy chạy đến chở T1 tẩu thoát. Sau đó, C giao xe cho T1 mang đi bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) đi trên đường lấy số tiền 500.000 đồng rồi cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe này không thu hồi được.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 10 giờ ngày 26/10/2023, cả hai đi bộ đến địa điểm trên, T1 đứng cảnh giới còn C đi đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Fujiki, màu đen, biển số 76X4-0242 của chị Đặng Thị Mỹ N dùng tay giật dây điện của xe rồi nổ máy chạy đến chở T1 tẩu thoát. Sau đó, C giao xe cho T1 mang đi bán cho một người đàn ông trên đường đi (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) lấy số tiền 500.000 đồng rồi cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe này không thu hồi được.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 09 giờ ngày 07/11/2023, cả hai đi bộ đến địa điểm trên, T1 đứng cảnh giới còn C đi đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Dehan, màu nâu, biển số 92K9-4605 của anh Trần Tiến Đ dùng tay giật dây điện của xe rồi nổ máy chạy đến chở T1 tẩu thoát. Sau đó, C giao xe cho T1 mang đi bán cho một người phụ nữ trên đường đi (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) lấy số tiền 500.000 đồng rồi cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe này không thu hồi được.
Vụ thứ năm: Vào khoảng 14 giờ, ngày 07/12/2023, cả hai đi bộ đến địa điểm trên, T1 đứng cảnh giới còn C đi đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Hecmec, màu đỏ đen, biển số 92N8-9780 của chị Phạm Thị Thanh H5 dùng tay giật dây điện của xe rồi nổ máy chạy đến chở T1 tẩu thoát. Sau đó, C giao xe cho T1 mang đi bán cho một người đàn ông đi trên đường (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) lấy số tiền 500.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe này không thu hồi được.
Vụ thứ sáu: Vào khoảng 07 giờ ngày 18/12/2023, cả hai đi bộ đến địa điểm trên, cùng thủ đoạn như những lần trước, T1 đứng cảnh giới còn C đi đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Astrea, màu đen, biển số 43K3-0292 của chị Lê Thị Vy T2 dùng tay giật dây điện của xe rồi nổ máy chạy đến giao cho T1. Sau đó, C quay lại đi đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Honda Wavealp, màu đen bạc, biển số 37F2-683.03 của chị Ngô Thị H dắt xe đi bộ đến vị trí của T1 đang đứng đợi. Đến nơi, C ngồi lên xe này còn T1 nổ máy xe mô tô biển 43K3 - 0292 điều khiển đẩy xe mô tô do C điều khiển chạy đi tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai đi đến đường T khu vực gần Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện bắt giữ. Sau đó, chuyển lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
* Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Astrea, màu đen, biển số 43K3-0292.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wavealp, màu đen bạc, biển số 37F2-683.03.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 21/12/2023, cơ quan Cảnh điều tra Công an thành phố H đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Astrea cho chị Lê Thị Vy T2 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wavealp cho chị Ngô Thị H.
* Tại kết luận định giá tài sản số 269/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Astrea, màu đen, biển số 43K3-0292 có giá trị vào thời điểm ngày 18/12/2023 là 1.200.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wavealp, màu đen bạc, biển số 37F2-683.03 có giá trị vào thời điểm ngày 18/12/2023 là 11.500.000 đồng.
* Tại kết luận định giá tài sản số 1153/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 37L2-117.23 có giá trị tại thời điểm ngày 09/10/2023 là 1.500.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Megyci, màu xanh, biển số 81K1-9039 có trị giá vào thời điểm ngày 19/10/2023 là 1.200.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Fujiki, màu đen, biển số 76X4-0242 có trị giá vào thời điểm ngày 26/10/2023 là 1.400.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Dehan, màu nâu, biển số 92K9-4605 có giá trị vào thời điểm ngày 07/11/2023 là 1.200.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Hecmec, màu đỏ đen, biển số 92N8-9780 có giá trị vào thời điểm ngày 07/12/2023 là 1.200.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 chiếm đoạt của các bị hại là 19.200.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 phải bồi thường thiệt hại gồm: Anh Hồ Khắc H1 số tiền 1.500.000 đồng, chị R Ha Sia số tiền 1.200.000 đồng, chị Đặng Thị Mỹ N số tiền 1.400.000 đồng, anh Trần Tiến Đ số tiền 1.200.000 đồng, chị Phạm Thị Thanh H5 số tiền 1.200.000 đồng. Đối với chị Lê Thị Vy T2 và chị Ngô Thị H đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với chị Cao Thị T3 mua tài sản từ Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 nhưng không biết do hai bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị T3. Đối với những người đàn ông, phụ nữ mua tài sản từ C và T1 chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ nên chưa có cơ sở xử lý.
Tại bản cáo trạng số 145/CT-VKSTPH ngày 11/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Đức T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung C từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho các bị hại là anh Hồ Khắc H1 số tiền 1.500.000 đồng, chị R Ha Sia số tiền 1.200.000 đồng, chị Đặng Thị Mỹ N số tiền 1.400.000 đồng, anh Trần Tiến Đ số tiền 1.200.000 đồng, chị Phạm Thị Thanh H5 số tiền 1.200.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Do biết nhiều người thường xuyên đỗ xe hai bên vỉa hè đường N, trước khu vực ký túc xá của trường Cao đẳng Y, thuộc phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế mà không có người trông giữ. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023, hai anh em Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 đã lén lút thực hiện 06 vụ trộm cắp xe mô tô các loại, chiếm đoạt tài sản của 07 bị hại có giá trị qua định giá tài sản là 19.200.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Trung C đã bị xác định tái phạm nên lần phạm tội này bị cáo Chính phạm vào tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng số 145/CT-VKSTPH ngày 11/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Nguyễn Trung C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Đức T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng:
Các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam và không có tiền tiêu xài cho bản thân, các bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại không chỉ một lần mà nhiều lần. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật; trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.
Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Bị cáo Nguyễn Trung C là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Nguyễn Đức T1 là người thực hiện nhiệm vụ cảnh giới và đưa tài sản chiếm đoạt được đưa đi tiêu thụ nên cũng phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò giúp sức tích cực.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 đều có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và kết án. Cả 02 bị cáo đều đang có tiền án, bị cáo C đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm, còn bị cáo T1 phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Các bị cáo thực hiện nhiều lần nên đều phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo cũng chưa bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng là đã thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm để xử phạt các bị cáo nhằm đủ tác dụng trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Một số tài sản hai bị cáo chiếm đoạt đã không thu hồi được nên các bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị mất là chính đáng. Hiện tại, các bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho các bị hại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc hai bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau cho các bị hại, cụ thể: Bồi thường cho anh Hồ Khắc H1 số tiền 1.500.000 đồng, chị R Ha Sia số tiền 1.200.000 đồng, chị Đặng Thị Mỹ N số tiền 1.400.000 đồng, anh Trần Tiến Đ số tiền 1.200.000 đồng, chị Phạm Thị Thanh H2 số tiền 1.200.000 đồng. Đối với chị Lê Thị Vy T2 và chị Ngô Thị H đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trung C (Tên gọi khác: C1) và Nguyễn Đức T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 18/12/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 18/12/2023..
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 357, 468, 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Buộc hai bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 phải liên đới bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau, cụ thể:
- - Bồi thường cho anh Hồ Khắc H1 số tiền 1.500.000 đồng;
- - Bồi thường cho chị R Ha Sia số tiền 1.200.000 đồng,;
- - Bồi thường cho chị Đặng Thị Mỹ N số tiền 1.400.000 đồng;
- - Bồi thường cho anh Trần Tiến Đ số tiền 1.200.000 đồng;
- - Bồi thường cho chị Phạm Thị Thanh H5 số tiền 1.200.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành (chậm trả) cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí hình sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Trung C và Nguyễn Đức T1 phải chịu án 325.000 đồng, mỗi bị cáo chịu 162.500 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
