Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 160/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21/11/2023

V/V “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Nguyên.

2. Bà Phan Hoàng Mai.

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 522/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 541/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Hoàng N, sinh năm 1987.
  2. Địa chỉ: số C đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Bà Trần Thanh T, sinh năm 1983.
  4. Địa chỉ: số F đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện 20/07/2023, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Hoàng N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: ông Phạm Hoàng N, bà Trần Thanh T tự quen biết, tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn, theo giấy trích lục kết hôn (bản sao) số 82/TLKH-BS ngày 03/02/2023, kết hôn ngày 28/06/2017 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai ông bà không yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên ông N yêu cầu ly hôn bà T.

Về con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng có hai con chung tên Phạm Minh K, sinh ngày 24/10/2017 và Phạm Trung K1 sinh ngày 21/11/2020. Hiện nay, hai con chung do ông N trực tiếp nuôi dưỡng nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thanh T trình bày theo tờ tường trình ngày 27/10/2023 (BL 36) như sau: Do bận công việc và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên tôi không tham gia hòa giải tại Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, phía bà T đồng ý. Thực tế, bà T và ông N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan niệm sống. Về quan hệ con chung: bà T và ông N có 02 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày 24/10/2017 và Phạm Trung K1 sinh ngày 21/11/2020, bà T đồng ý giao con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà T thông qua tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L vào ngày 28/6/2017. Vào thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà T.

Quá trình giải quyết, mặc dù được Tòa án tạo điều kiện hòa giải, nhưng ông N vẫn kiên quyết xin ly hôn. Riêng, bà T biết ông N xin ly hôn nhưng không có ý kiến thể hiện ý chí muốn hàn gắn gia đình với ông N. Nhận thấy, hôn nhân hạnh phúc phải xuất phát từ tình cảm của cả hai, phía ông N không còn tình cảm với bà T nên quan hệ hôn nhân giữa hai người mẫu thuẩn trầm trọng, không thế tiếp tục chung sống vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 về mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu câu xin ly hôn của ông N là có cơ sở để chấp nhận quy định tại Điêu 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Ông N và bà T có hai con chung tên Phạm Minh K, sinh ngày 24/10/2017 và Phạm Trung K1, sinh ngày 21/11/2020. Sau khi ly hôn, ông N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, để đảm bảo ổn định về tinh thần và quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên để ông N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng ông N không yêu cầu nên bà T không phải cấp dưỡng. Về tài sản và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của ông N được ly hôn với bà T. Về con chung ông N tiếp tục nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng. Về tài chung và nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ co trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T có đăng ký kết hôn theo giấy trích lục kết hôn số: 82/TLKH-BS ngày 03/02/2023 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp. Ông N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T; bà T cư trú tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang nên căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông N và bà T là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T đề có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án: Ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy trích lục kết hôn số 82/TLKH-BS ngày 03/02/2023, kết hôn ngày 28/06/2017, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay, ông N và bà T phát sinh mâu thuẫn, ông N xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của ông N và bà T sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm, yêu thương, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Trong thời gian giải quyết ông N luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T.

[5] Xét, hôn nhân giữa ông N và bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, thực hiện các công việc trong gia đình, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, ông N không còn tình cảm với bà T, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T biết việc ông N yêu cầu ly hôn, bà T chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông N được ly hôn với bà T.

[6] Về quan hệ con chung: Ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T có hai con chung tên Phạm Minh K, sinh ngày 24/10/2017 và Phạm Trung K1, sinh ngày 21/11/2020, hiện đang sống cùng với ông N. Ông N đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà T thống nhất giao con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy, hai con chung đang sống chung với ông N, được ông chăm sóc tốt, có nơi ở ổn định, được học tập tại nơi cư trú, nên cần thiết giao hai con chung cho ông N nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, ông N được trực tiếp tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung tên Phạm Minh KPhạm Trung K1. Bà T không cấp dưỡng nuôi con chung, do ông N không yêu cầu, nên không xét đến, nếu có tranh chấp sẽ xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông N nộp tiền án phí 300.000đ, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0002274, ngày 29 tháng 09 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, ông N đã nộp đủ, bà T không nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 8, 9, 19, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, 238, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng N được ly hôn với bà Trần Thanh T.

Về quan hệ con chung: Ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T có hai con chung tên Phạm Minh K, sinh ngày 24/10/2017 và Phạm Trung K1 sinh ngày 21/11/2020. Ông Phạm Hoàng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Minh K, sinh ngày 24/10/2017 và Phạm Trung K1 sinh ngày 21/11/2020. Bà T không cấp dưỡng nuôi các con chung do ông N không yêu cầu, ông N phải tạo điều kiện thuận lợi cho bà T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung, việc nuôi con chung không cố định.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Hoàng N nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002274 ngày 29/09/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ông Phạm Hoàng N và bà Trần Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của ông N, bà T.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPLX;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2023/HNGĐ-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 160/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger