TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 160/2025/HS-ST
Ngày: 25/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Vụ
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2025/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với :
Bị cáo: Cao Minh T;
Sinh năm 2002; Hộ khẩu thường trú: Số nhà A Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: số nhà A L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Cao Minh T1, sinh năm 1947 ( Đã chết) ; Họ tên mẹ: Phạm Thị X, sinh năm 1968; Vợ con: chưa có. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị caó bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 22/11/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Nhà B Chung cư R, Thành phố T
+ Chị Lê Huyền T2 . sinh năm 1997
Địa chỉ: Số B phố L phường L, Thành phố T
+ Anh Nguyễn Thế T3, sinh năm 1994
Địa chỉ: Số I T phường N, Thành phố T
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua tố giác của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, ở 8 M, phường Đ, thành phố T, ngày 14/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã triệu tập làm việc với Cao Minh T. Tại Cơ quan điều tra T đầu thú, khai nhận: (BL 76-87)
Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 14/11/2024, Cao Minh T sử dụng tiền cá nhân cho 03 (ba) người vay, hình thức vay thăm cắt lãi trước, tổng số tiền cho các khách vay là 290.000.000đ, mỗi gói T cho vay dao động từ 5.000.000đ đến 20.000.000đ. Hai bên thống nhất thời hạn mỗi gói vay là 50 ngày, lãi suất 4000đ/1 triệu/1 ngày. Tuy nhiên một số gói vay các khách vay xin đảo trước hạn, thời hạn đảo dao động từ 13 ngày đến 48 ngày với lãi suất từ 4.000đ đến 15.385đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng từ 146%/năm đến 562%/năm, gấp từ 7,3 đến 28,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Đối với các gói đảo hạn tiếp theo, T trừ đi số lãi cắt trước và số tiền gốc còn nợ ở gói vay trước (nếu có), số tiền còn lại T sẽ đưa cho người vay. Cụ thể:
1. Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 14/11/2024, T cho chị Nguyễn Thị Lê V 13 gói vay thăm, với tổng số tiền vay là 210.000.000đ, đã thu 42.000.000đ tiền lãi, trong đó số tiền lãi thu theo quy định là 3.756.164đ, số tiền thu lợi bất chính là 38.243.836d. (BL 88-90). Cụ thể:
- Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 07/5/2024, T cho chị L vay quay vòng 06 gói vay với số tiền mỗi gói là 20.000.000đ, thời hạn các gói vay lần lượt là 28, 33, 24, 32, 25, 43 ngày. T cắt trước lãi 4.000.000đ/01 gói vay, tương đương mức lãi suất từ 4651đ đến 8333đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng với lãi suất 170% đến 304%/năm, gấp 8,5 đến 15,2 lần mức lãi suất cao nhất được phép thu theo quy định. Số tiền lãi T đã thu là 24.000.000đ, trong đó số tiền lãi được phép thu là 2.027.397đ, số tiền thu lợi bất chính là 21.972.603đ.
- Từ ngày 07/5/2024 đến 17/7/2024, T tiếp tục sử dụng tiền thu được từ gói vay trước cho chị L vay quay vòng 03 gói vay mới với số tiền mỗi gói là 10.000.000đ, thời hạn các gói vay lần lượt là 42, 13, 19 ngày. T cắt trước lãi 2.000.000đ/01 gói vay, tương đương mức lãi suất từ 4762đ đến 15.385đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng với lãi suất 174% đến 562%/năm, gấp 8,7 đến 28,1 lần mức lãi suất cao nhất được phép thu theo quy định. Số tiền lãi T đã thu là 6.000.000đ, trong đó số tiền lãi được phép thu là 405.480đ, số tiền thu lợi bất chính là 5.594.521đ.
- Từ ngày 17/7/2024 đến 14/11/2024, T tiếp tục sử dụng tiền thu được từ gói vay trước cho chị L vay quay vòng 04 gói vay mới với số tiền mỗi gói là 15.000.000đ, thời hạn các gói vay lần lượt là 41, 27, 43, 50 ngày. T cắt trước lãi 3.000.000đ/01 gói vay, tương đương mức lãi suất từ 4000đ đến 7047đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng với lãi suất 146% đến 270%/năm, gấp 7,3 đến 13,5 lần mức lãi suất cao nhất được phép thu theo quy định. Số tiền lãi T đã thu là 12.000.000đ, trong đó số tiền lãi được phép thu là 1.323.288đ, số tiền thu lợi bất chính là 10.676.712đ. Hiện chị L còn nợ 14.100.000đ tiền gốc.
2
2. Ngày 02/01/2024, T cho Lê Huyền T2, sinh năm 1997, ở số nhà B L, phường L, thành phố T vay 5.000.000đ, lãi suất 4000đ/triệu/ngày, thời hạn vay 50 ngày, tương ứng lãi suất 146%/năm, gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất được phép thu theo quy định. T cắt trước lãi 1.000.000đ, đưa cho chị T2 4.000.000đ. Số tiền lãi được phép thu theo quy định 136.986đ, thu lợi bất chính số tiền 863.014đ. Mỗi ngày chị T2 trả 100.000đ tiền gốc. Hết 50 ngày vay theo thỏa thuận T2 còn nợ T 2.000.000đ tiền gốc, đối với số tiền này T không tính lãi tiếp. (BL 91-92)
3. Từ ngày 22/01/2024 đến ngày 14/11/2024, T cho anh Nguyễn Thế T3, sinh năm 1994, ở 0 T, phường N, thành phố T vay 10 gói vay với tổng số tiền 75.000.000đ, đã thu 15.000.000đ tiền lãi, trong đó số tiền lãi thu theo quy định là 1.476.712đ, số tiền thu lợi bất chính là 13.523.288đ. (BL 93-95). Cụ thể:
- Từ ngày 22/01/2024 đến 22/7/2024, T cho anh T3 vay quay vòng 05 gói vay với số tiền mỗi gói là 10.000.000đ, thời hạn các gói vay lần lượt là 48, 34, 33, 24, 48 ngày. T cắt trước lãi 2.000.000đ/01 gói vay, tương đương mức lãi suất từ 4167đ đến 8333đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng với lãi suất 152% đến 304%/năm, gấp 7,6 đến 15,2 lần mức lãi suất cao nhất được phép thu theo quy định. Số tiền lãi T đã thu là 10.000.000đ, trong đó số tiền lãi được phép thu là 1.024.658đ, số tiền thu lợi bất chính là 8.975.342đ.
- Từ ngày 22/7/2024 đến 14/11/2024, T sử dụng tiền thu được từ gói vay trước cho anh T3 vay quay vòng 05 gói vay mới với số tiền mỗi gói là 5.000.000đ, thời hạn các gói vay lần lượt là 26, 23, 41, 25, 50 ngày. T cắt trước lãi 1.000.000đ/01 gói vay, tương đương mức lãi suất từ 4000đ đến 8696đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng với lãi suất 146% đến 317%/năm, gấp 7,3 đến 15,9 lần mức lãi suất cao nhất được phép thu theo quy định. Số tiền lãi T đã thu là 5.000.000đ, trong đó số tiền lãi được phép thu là 452.055đ, số tiền thu lợi bất chính là 4.547.945đ. Anh T3 còn nợ T 7.500.000đ số tiền vay gốc.
Tổng số tiền T đã cho các khách vay là 290.000.000đ, thu lãi 58.000.000đ, tương ứng với lãi suất từ 146%/năm đến 562%/năm, gấp từ 7,3 đến 28,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Số tiền lãi đã thu theo quy định là 5.369.862đ, số tiền thu lợi bất chính là 52.630.138đ.
Quá trình điều tra xác định, Cao Minh T đã sử dụng tiền thu được từ gói vay đầu tiên để cho vay ở các gói vay sau. Với hình thức cho vay thăm, cắt lãi trước Cao Minh T đã dùng 20.000.000đ tiền gốc cho chị Nguyễn Thị Lê V 13 gói vay thăm, 5.000.000đ tiền gốc cho chị Lê Huyền T2 vay 01 gói thăm, 10.000.000đ tiền gốc cho anh Nguyễn Thế T3 vay 10 gói thăm. Bị cáo và các khách vay thống nhất không viết giấy vay. Tổng số tiền gốc bị cáo dùng cho vay là 35.000.000đ.
Ngày 14/11/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Minh T thu giữ 02 giấy vay tiền của chị Cao Thị T4, sinh năm 1979, ở D P, phường P, thành phố T và anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991, ở G H, phường Đ, thành phố T; 01 giấy nhận tiền của anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1997, ở 0 T, phường Đ, thành phố T. Kết quả điều tra xác định T đã cho chị T4, anh D và anh Q vay tiền không tính lãi suất nên không phải là vật chứng của vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại các giấy vay tiền và giấy nhận tiền cho T là đúng quy định. (BL 28-31, 96-104)
Về phần dân sự: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thế T3 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã thu lợi bất chính, bị cáo đã trả lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thế T3. Chị Lê Huyền T2 không yêu cầu bị caó trả lại số tiền đã thu lợi bất chính. Anh Nguyễn Thế T3 và chị Nguyễn Thị L đã trả cho bị cáo số nợ gốc còn lại.
2. Tại cáo trạng số: 105/CT-VKSTPTH ngày 21/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá truy tố Cao Minh T về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa sơ thẩm,
Đại diện VKS đề nghị HĐXX tuyên bố Cao Minh T phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Minh T như sau: Phạt bị cáo Cao Minh T số tiền từ 60.000.000 đến 80.000.000đ.
- Về biện pháp tư pháp:
Biện pháp tư pháp: Đề nghị truy thu số tiền truy thu số tiền bị cáo dùng để cho vay là 35.000.000đ từ bị cáo và những người vay tiền chưa trả, cụ thể: Truy thu của bị cáo 33.000.000đ; truy thu của chị Lê Huyền T2 2.000.000đ; Truy thu của bị cáo số tiền 5.369.862đ đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự mà 2015 mà bị cáo T đã thu của những người vay; Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được việc vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và không gây trở ngại cho việc xét xử. HĐXX căn cứ Điều 292 BLTTHS tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[3] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 14/11/2024, Cao Minh T đã cho chị Nguyễn Thị L, Lê Huyền T2 và anh Nguyễn Thế T3 vay tiền với lãi suất cao, hình thức vay thăm cắt lãi trước với tổng số tiền cho vay là 290.000.000đ, đã thu số tiền lãi 58.000.000đ, tương ứng với lãi suất từ 146%/năm đến 562%/năm, gấp từ 7,3 đến 28,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Số tiền lãi đã thu theo quy định là 5.369.862đ, số tiền thu lợi bất chính là 52.630.138đ.
Với hình thức cho vay thăm, cắt lãi trước Cao Minh T đã dùng 20.000.000đ tiền gốc cho chị Nguyễn Thị Lê V 13 gói vay thăm, 5.000.000đ tiền gốc cho chị Lê Huyền T2 vay 01 gói thăm, 10.000.000đ tiền gốc cho anh Nguyễn Thế T3 vay 10 gói thăm. Bị cáo và các khách vay thống nhất không viết giấy vay. Tổng số tiền gốc bị cáo dùng cho chị L, chị T2, anh T3 vay là 35.000.000đ.
Trong giai đoạn điều tra truy tố, chị L còn nợ 14.100.000đ, chị T2 còn nợ 2.000.000đ, anh T3 còn nợ 7.500.000đ tiền gốc của T. Trước khi xét xử, chị L và anh T3 đã trả lại toàn bộ số tiền nợ gốc cho bị cáo. Bị cáo đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Lê 3, trả cho anh Nguyễn Thế T3 13.627.397đ là số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính. Chị T2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại tiền thu lời bất chính.
5
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Cao Minh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, gây bất bình cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cao Minh T không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú; Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quá, trả lại cho chị Nguyễn Thị Lê 3, trả cho anh Nguyễn Thế T3 13.627.397đ là số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính. Do đó, cần áp dụng các quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo có nơi cư trú ổn định, có thu nhập đảm bảo cho việc thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng phạt tiền là hình phạt chính với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo sớm sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội.
[6] Hình phạt bổ sung: Do hình phạt tiền đã được áp dụng là hình phạt chính, nên căn cứ điểm e khoản 2 Điều 32 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền gốc 35.000.000đ là khoản tiền bị cáo sử dụng cho vay là phương tiện phạm tội nên cần truy thu để nộp ngân sách Nhà nước. Do chị Lê Huyền T2 chưa trả lại số tiền vay 2.000.000đ nên bị cáo T được trừ đi số tiền này (2.000.000đ). Do đó số tiền gốc phải truy thu từ bị cáo là 33.000.000đ ; truy thu từ chị Lê Huyền T2 2.000.000đ;
6
- Đối với số tiền lãi 5.369.862đ đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự mà 2015 bị cáo T đã thu của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội mà có, nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 52.630.138đ là tiền lãi suất trên mức lãi 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính từ người vay nên buộc bị cáo trả lại cho những người vay. Quá trình điều tra truy tố Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thế T3 yêu cầu bị caó trả lại số tiền đã thu lợi bất chính.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quá, trả lại cho chị Nguyễn Thị Lê 3, trả cho anh Nguyễn Thế T3 13.627.397đ là số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính . Chị Lê Huyền T2 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã thu lợi bất chính.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Cao Minh T số tiền 70.000.000đ ( Bảy mươi triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về biện pháp tư pháp:
- Truy thu của Cao Minh T số tiền bị cáo dùng để cho vay là 33.000.000 ( Ba mươi ba triệu đồng) và số tiền 5.369.862đ ( Năm triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu hai đồng) tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay.
Tổng cộng truy thu của Cao Minh T số tiền 38.369.862 đồng ( Ba mươi tám triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm sáu hai đồng).
- Buộc chị Lê Huyền T2 ( là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) phải nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ ( Hai triệu đồng) là số tiền chị T2 đã vay, và đang còn nợ của bị cáo Cao Minh T .
Về án phí: Bị cáo Cao Minh T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
7
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thị Dung |
8
9
Bản án số 160/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 160/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình Sự
