Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 160/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14-3-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
  • Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 827/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1989. HKTT: số nhà B, ngõ C Tập thể Chi Cục T, phường L, H, Hà Nội. Nơi ở hiện nay: số nhà C ngõ C, thôn V, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Anh T, sinh năm 1983. HKTT: số nhà B, ngõ C Tập thể Chi Cục T, tổ dân phố C, phường L, H, Hà Nội.
  • - Chị L có đơn xin vắng mặt. Anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn ly hôn, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Phạm Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội ngày 21/01/2013.

Theo chị L trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh T không tu chí làm ăn, chơi bời, nợ nần và thường xuyên có hành vi đánh đập chị L. Sự việc này diễn ra rất lâu, hai bên gia đình đều biết nhưng chị L vẫn cố gắng chịu đựng để cho các con có đầy đủ bố mẹ. Nhưng do không chịu nổi, đầu năm 2016 chị L đã mang theo các con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn V, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Đến nay, chị thấy thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, không thể giải quyết được. Chị xác định không còn tình cảm với anh T, cuộc sống chung với anh T không thể tiếp tục, mục đich hôn nhân không đạt được. Chị đề nghị Toà án cho chị sớm được ly hôn anh T để chị ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn nuôi các con.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Phạm Trí H, giới tính nam, sinh ngày 29/11/2013 và Phạm Đức M, giới tính nam, sinh ngày 15/11/2015. Hiện các con chung khoẻ mạnh, phát triển bình thường và hiện do chị L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly thân.

Khi ly hôn, để đảm bảo cuộc sống bình thường, ổn định cho các con chung chị xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị trình bày vợ chồng chị không có tài sản chung, không có công nợ chung, không cho ai vay nợ. Chị không đề nghị Toà giải quyết.

Chị L trình bày, vợ chồng chị đều đã là người trưởng thành và có nhận thức có quyết định độc lập của bản thân. Chị đề nghị Tòa không lấy lời khai, không làm phiền đến gia đình hai bên, đề nghị Tòa xem xét chấp nhận nguyện vọng của chị để chị sớm ổn định cuộc sống, yên tâm nuôi dậy các con.

* Đối với bị đơn là anh Phạm Anh T: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thủ tục tố tụng đối với anh Phạm Anh T, tuy nhiên anh T không đến Toà án làm việc, không có ý kiến gửi Toà án.

Công an phường L cung cấp: Anh Phạm Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà B, ngõ C Tập thể Chi Cục T, tổ dân phố C, phường L, H, Hà Nội. Hiện không có thông tin về nơi cư trú mới của anh T.

Tổ dân phố nơi chị L, anh T đăng ký hộ khẩu thường trú cho biết: Hiện nay cả chị L và anh T đều không ăn, ở, sinh hoạt tại địa chỉ trên. Hiện nay anh T đang ăn, ở, sinh sống tại đâu tổ dân phố không nắm được. Tổ dân phố không nắm được thông tin về mâu thuẫn của vợ chồng anh chị.

Cùng con chung của chị L, anh T có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ.

* Tại phiên tòa: Chị L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng của chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Phạm Anh T đã kéo dài, đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn anh T.

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Phạm Trí H, sinh ngày: 29/11/2013, giới tính nam và Phạm Đức M, sinh ngày: 15/11/2015, giới tính nam cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Không xem xét đến các đương sự không có yêu cầu.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thùy L nộp đơn xin ly hôn với anh Phạm Anh T (có địa chỉ cư trú tại số nhà B, ngõ C Tập thể Chi Cục T, tổ dân phố C, phường L, H, Hà Nội). Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Toà án và theo lãnh thổ quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Phạm Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội ngày 21/01/2013 nên là hôn nhân hợp pháp.
  4. Theo chị L trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều bất đồng, anh T thường xuyên chơi bời nợ nần, không tu chí làm ăn và còn có hành vi bạo lực với chị trong thời gian vợ chồng chung sống khiến chị không thể tiếp tục chịu đựng. Việc chung sống với anh T có thể dẫn đến việc nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ của chị, chị đã phải mang con về sống nhờ gia đình mẹ đẻ từ năm 2016.
  5. Đến nay, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung đã từ rất lâu không còn tồn tại, không thể tiếp tục nên xin được ly hôn anh Phạm Anh T. Căn cứ điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị L.
  6. Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng có 02 con chung là Phạm Trí H, sinh ngày: 29/11/2013, giới tính nam và Phạm Đức M, sinh ngày: 15/11/2015, giới tính nam.
  7. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  8. Xét con chung hiện đều đang do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không có nguyện vọng xin được nuôi con chung gửi Toà án nên cần giao cho mẹ là chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  9. Về tài sản, nợ chung của vợ chồng: Chị L trình bày vợ chồng không có tài sản chung; không có công nợ chung, không cho ai vay nợ; chị không đề nghị Toà giải quyết. Anh Tuấn vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày, đề nghị gì khác.
  10. Khi có căn cứ và yêu cầu giải quyết đối với các tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác.
  11. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy L với anh Phạm Anh T.

    Xử chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với anh Phạm Anh T.

  2. Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Phạm Anh T có 02 con chung là Phạm Trí H, giới tính nam, sinh ngày 29/11/2013, và Phạm Đức M, giới tính nam, sinh ngày 15/11/2015. Các con chung đều khoẻ mạnh, phát triển bình thường.

    Giao mẹ là chị Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Trí H, giới tính nam, sinh ngày 29/11/2013 và Phạm Đức M, giới tính nam, sinh ngày 15/11/2015, đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi anh chị có thỏa thuận khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thùy L không yêu cầu anh Phạm Anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Anh Phạm Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, các Luật khác liên quan không ai được ngăn cản.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0044523 ngày 27/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THADS quận Hà Đông;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 160/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T3.25 BA Linh - Tuấn (Hoa) 160 14.3.25
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger