Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-PT

Ngày: 05/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Hằng;
  • Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp
  • Bà Nguyễn Thanh Minh Châu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C và Nguyễn Thị Bích L1, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C và Nguyễn Thị Bích L1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Huỳnh Thị Ngọc L

(tên thường gọi: L1), sinh năm 1989; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Quang L2 và bà Nguyễn Thị T (cùng là bị cáo trong vụ án); chồng: Nguyễn Trung H; con: 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 22-3-2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

2. Nguyễn Đình K,

sinh năm 1984; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình O (đã chết) và bà Nguyễn Thị E; vợ: Nguyễn Thị Thanh T1, con: 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 03-6-2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

3. Dương Văn C,

sinh năm 1981; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn K1 và bà Nguyễn Thị É (đã chết); vợ: Lê Thị K2, con: 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • + Ngày 12-6-2019, bị Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 19-6-2019, đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt.
  • + Ngày 09-7-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án, được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 03-6-2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

4. Nguyễn Thị Bích L1,

sinh năm 1985; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Võ Thị H1; chồng: Đặng Thành Q (đã ly hôn), con: có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

Ngày 10-01-2024, có hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi đánh bài câu cá mà được thua bằng tiền”, Công an xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đến ngày 18-02-2024 mới nhận được quyết định.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngày 03-6-2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian Tết Nguyên đán năm 2024, Huỳnh Thị Ngọc L sử dụng nhà bỏ hoang trên phần đất gần nhà của L thuộc ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh để tổ chức cho người khác tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bài cào ba lá. L điện thoại rủ nhiều người đến tham gia đánh bạc, L chuẩn bị bộ bài tây, nước uống, tấm manh, đèn điện để phục vụ và thu tiền xâu khi người làm cái thắng 9 điểm (thường gọi là 9 nút).

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17-02-2024, Nguyễn Đình K mang theo số tiền 25.000.000 đồng để làm cái cho những người tham gia đánh bạc, quy định mỗi tụ đặt cược với số tiền 100.000 đồng đến 500.000 đồng/ván, nếu K được 09 điểm/ván thì L sẽ thu tiền xâu 100.000 đồng/ván, L đã thu tiền xâu được 800.000 đồng. Những người tham gia đánh bạc gồm: Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thị Bích L1, Lê Văn C1, Đỗ Thị M, Lê Văn Đ, Dương Văn C, Lâm Thị Ngọc M1, Nguyễn Thị S, Lâm Thị Y, Nguyễn Thị T. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đình K, Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thị Bích L1, Lê Văn C1, Đỗ Thị M, Lê Văn Đ, Dương Văn C, Lâm Thị Ngọc M1, Nguyễn Thị S, Lâm Thị Y, Nguyễn Thị T. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 22.050.000 đồng, thu giữ trên người những người đánh bạc số tiền 49.920.000 đồng, 156 lá bài tây (đã qua sử dụng), 01 tấm manh bằng nhựa nhiều màu và 19 bộ bài tây (chưa qua sử dụng).

Các bị cáo khai nhận số tiền mang theo đánh bạc, gồm:

  • Nguyễn Đình K mang theo số tiền 25.000.000 đồng để làm cái đánh bài cào 03 lá, có xâu cho Huỳnh Thị Ngọc L 800.000 đồng, làm cái bị thua. Số tiền bị thu giữ 22.900.000 đồng.
  • Huỳnh Thị Ngọc L ngoài việc tổ chức cho người khác đánh bạc, L mang theo số tiền 2.900.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thua số tiền 200.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 3.500.000 đồng, trong đó có 800.000 đồng là tiền xâu.
  • Nguyễn Văn D mang theo số tiền 7.500.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 07 ván, mỗi ván với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, thắng được số tiền 500.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 8.000.000 đồng.
  • Lê Văn C1 mang theo số tiền 5.700.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia cá cược với K theo nhà cái thắng, thua với số tiền mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, thua số tiền 700.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 5.000.000 đồng.
  • Đỗ Thị M cùng chồng là Lê Văn Đ mang theo số tiền 4.450.000 đồng để cùng tham gia đánh bạc và đặt 01 tụ, tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thua số tiền 900.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 3.550.000 đồng.
  • Nguyễn Thị Bích L1 mang theo số tiền 3.420.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 05 ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thua số tiền 100.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 3.320.000 đồng.
  • Lâm Thị Y mang theo số tiền 1.100.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 09 ván, mỗi ván với số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, thua số tiền 150.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 950.000 đồng.
  • Dương Văn C mang theo số tiền 1.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thắng được số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 2.000.000 đồng.
  • Nguyễn Thanh P mang theo số tiền 500.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 06 ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thắng được số tiền 200.000 đồng. Số tiền bị thu giữ là 700.000 đồng.
  • Lâm Thị Ngọc M1 mang theo số tiền 500.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 13 ván, mỗi ván với số tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, thắng được số tiền 300.000 đồng. Khi Công an bắt quả tang, M1 ném số tiền 800.000 đồng xuống chiếu bạc.
  • Nguyễn Thị S mang theo số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 03 ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thua hết số tiền 300.000 đồng.
  • Nguyễn Thị T mang theo số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc, tham gia đặt cược 03 ván, mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, thua hết số tiền 300.000 đồng.

* Kết luận giám định số 689/KL-KTHS ngày 18/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh tây N kết luận: 138 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 500.000; 66 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 200.000; 32 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 100.000; 110 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 50.000; 04 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 20.000; 11 tờ tiền Việt Nam đồng (Polymer) mệnh giá 10.000 cần giám định nêu trên là tiền thật.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Huỳnh Thị Ngọc L khi thực hành vi phạm tội đang mang thai.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Đình K, Nguyễn Văn D, Lê Văn C1, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1, Đỗ Thị M, Lê Văn Đ, Lâm Thị Ngọc M1, Lâm Thị Y, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
    1. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L 01 (một) năm tù.
    2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L 06 (sáu) tháng tù.

      Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 22-3-2024.

    3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 03-6-2024.
    4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 03-6-2024.
    5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 03-6-2024.

Ngày 10/10/2024 bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 04/10/2024 bị cáo Nguyễn Đình K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 30/10/2024 bị cáo Dương Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04/10/2024 bị cáo Nguyễn Thị Bích L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1 giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1 không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1: các bị cáo đều ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt quả tang, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Huỳnh Thị Ngọc L điện thoại rủ nhiều người, chuẩn bị bộ bài tây, nước uống, tấm manh, đèn điện chiếu sáng để tổ chức đánh bạc dưới hình thức bài cào ba lá được thua bằng tiền tại nhà bỏ hoang thuộc ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Nguyễn Đình K làm cái bài cào ba lá cho những người tham gia đánh bạc gồm: Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Văn D, Lê Văn C1, Đỗ Thị M, Lê Văn Đ, Nguyễn Thị Bích L1, Lâm Thị Y, Dương Văn C, Nguyễn Thanh P, Lâm Thị Ngọc M1, Nguyễn Thị S và Nguyễn Thị T. Các bị cáo bị bắt quả tang hồi 21 giờ 30 phút ngày 17-02-2024, thu giữ nhiều vật chứng có liên quan, xác định số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 75.520.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L đã cấu thành tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự và tội Đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình K, Nguyễn Văn D, Lê Văn C1, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1, Đỗ Thị M, Lê Văn Đ, Lâm Thị Ngọc M1, Lâm Thị Y, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T đã cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1 thấy rằng:

Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L tại thời điểm phạm tội đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo K được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận góp quà hỗ trợ nhân dân trong đợt dịch bệnh covid-19, bị cáo có ông ngoại Đỗ Văn L3 tham gia cách mạng. Bị cáo Dương Văn C có bà cố Nguyễn Thị C2 là bà M2 Việt Nam Anh Hùng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L chuẩn bị bài tây, địa điểm và rủ rê nhiều người khác đến tham gia đánh bạc để thu tiền xâu nên phải chịu trách nhiệm hình sự chính về tội Tổ chức đánh bạc. Ngoài ra, bị cáo L tham gia đánh bạc, đặt cược. Cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L 01 (một) năm tù. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo không có chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo L.

Đối với bị cáo Nguyễn Đình K là người làm cái duy nhất từ khi bắt đầu chơi cho đến khi bị bắt quả tang, mức độ thắng thua, sát phạt cao nhất, số tiền dùng đánh bạc là 25.000.000 đồng, cao gấp nhiều lần các bị cáo khác, giữ vai trò chính trong sòng bạc. Cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 02 (hai) năm tù là phù hợp với tính chất, hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo không có chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo K.

Đối với bị cáo Dương Văn C mang theo số tiền đánh bạc 1.000.000 đồng, cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo C đem theo số tiền đánh bạc là 2.000.000 đồng là chưa chính xác; số tiền đánh bạc không lớn, do đó xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo C.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích L1 mang theo số tiền 3.450.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc, tại thời điểm bị cáo phạm tội là ngày 17-02-2024 mặc dù bị cáo chưa nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng trước đó ngày 01-01-2024 bị cáo đã bị lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép nhưng tiếp tục vi phạm. Cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L1 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo không có chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo L1.

Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K và Nguyễn Thị Bích L1; có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn C.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử về việc không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo L, K và L1 không phù hợp đối với bị cáo C.

[4] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Nguyễn Thị Bích L1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Dương Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dương Văn C.
  • - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K và Nguyễn Thị Bích L1.
  • - Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Đình K, Nguyễn Văn D, Lê Văn C1, Dương Văn C, Nguyễn Thị Bích L1, Đỗ Thị M, Lê Văn Đ, Lâm Thị Ngọc M1, Lâm Thị Y, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
    1. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L 01 (một) năm tù.
    2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L 06 (sáu) tháng tù.

      Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 22-3-2024.

    3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 03-6-2024.
    4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 03-6-2024.
    5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2024 đến ngày 03-6-2024.
  2. Án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc L, Nguyễn Đình K, Nguyễn Thị Bích L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Bị cáo Dương văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND. TTN;
  • - TAND. huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS. huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Phòng PV 06 CATTN;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự

  • Số bản án: 160/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger