Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày: 05/12/2024

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Cơ

Ông Ngô Văn Sỹ

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh L - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đoàn Tiến A, sinh ngày 15/3/1983 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Tiến Đ và bà Lê Thị L1; có vợ là bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1985) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Thanh L2 – Luật sư của Công ty L3 – Chi nhánh Đ1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn H1, sinh năm 1977; trú tại: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

Ông Nguyễn Thi H2, sinh năm 1972; trú tại: 8 đường P, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thửa đất số 571, tờ bản đồ số 17, địa chỉ K đường P, phường H, quận L, Tp . có diện tích 1.466m2, loại đất một lúa do ông Mai Văn M quản lý và sử dụng từ trước năm 1997 và có kê khai với cơ quan quản lý đất đai địa phương. Năm 2009, ông M cho con là ông Mai Văn D lô đất nêu trên. Trong cùng năm, ông D đã chuyển nhượng lô đất có diện tích 100m² trong thửa đất nói trên cho bà Phan Thị Mỹ T. Năm 2011 và năm 2012, bà T đã thực hiện đóng thuế sử dụng đất đối với lô đất trên tại UBND phường H. Đến năm 2018, bà T chuyển nhượng lô đất nói trên lại cho ông Mai Văn D với giá 180.000.000 đồng. Khi bán, chồng bà T có viết giấy tay thể hiện nội dung bán lại lô đất cho ông D và giao cho ông D một bộ hồ sơ đất gồm Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở ghi ngày 28/11/2000 và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở cùng hai biên lai thu thuế nhà, đất cùng mang tên Phan Thị Mỹ T. Đến cuối năm 2018, ông D bán lô đất nói trên cho ông Nguyễn H1 với số tiền 200.000.000 đồng và giao toàn bộ các giấy tờ đất mang tên bà T cho ông H1.

Đến đầu năm 2019, qua sự quen biết với Nguyễn Thi H2 nên Đoàn Tiến A nhờ H2 tìm kiếm giúp mình một lô đất có giá thành rẻ để mua xây dựng nhà ở. Sau đó, H2 giới thiệu Anh mua lô đất nói trên của ông Nguyễn H1, H2 đã dẫn A đến nhà ông H1 để thỏa thuận việc mua đất. Qua thỏa thuận, ông H1 đồng ý bán lô đất nói trên cho Anh với giá 300.000.000 đồng. Ngày 02/4/2019, tại nhà ông H1, Anh đã đặt cọc cho ông H1 số tiền 100.000.000 đồng để mua lô đất trên, ông H1 có viết giấy nhận cọc của A. Một ngày sau thì Anh giao đủ số tiền còn lại là 200.000.000 đồng cho ông H1 và ông H1 ký giấy chuyển nhượng thửa đất nói trên và giao bộ hồ sơ đất cùng hai biên lai thu thuế nhà, đất mang tên Phan Thị Mỹ T cho A.

Theo khai nhận của Đoàn Tiến A: Khoảng một tuần sau, A đã nhờ H2 làm giúp cho Anh một bộ hồ sơ đất mang tên A, H2 đồng ý làm cho A với số tiền là 15.000.000 đồng, A đã đưa toàn bộ hồ sơ đất mang tên Phan Thị Mỹ T cho H2 để H2 làm giúp cho mình. Khoảng 07 ngày sau, H2 đã mang bộ hồ sơ đất gồm Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở có xác nhận của UBND phường H năm 2003 nhưng chưa có chữ ký của Đoàn Tiến A kèm theo hai biên lai thuế mang tên Đoàn Tiến A đến giao cho A cùng với bộ hồ sơ đất mang tên Phan Thị Mỹ T đã bị gạch chéo không kèm theo biên lai thuế, A đã giao cho H2 số tiền 15.000.000 đồng như thỏa thuận ban đầu đồng thời Anh ký tên mình vào mục “Ký tên” và “Người xin giao đất” trên Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở mang tên Đoàn Tiến A. Tiếp sau đó, A đã nhờ H2 lo việc xây nhà giúp cho mình, H2 nói chi phí xây nhà hết 40.000.000 đồng thì A đồng ý và giao số tiền 40.000.000 đồng cho H2 để xây nhà giúp cho A. Tuy nhiên, do khu đất đang trong diện quy hoạch để thực hiện dự án nên H2 không thể xây nhà cho A được (chỉ xây được phần móng). Anh tự tìm hiểu và xác định hai bộ hồ sơ đất mang tên Phan Thị Mỹ T và Đoàn Tiến A là giả và Anh không có quyền lợi gì đối với lô đất đã mua. Anh yêu cầu ông H1 và H2 trả lại tiền nhưng không được. Ngày 09/7/2020, Anh đã đến Cơ quan CSĐT Công an quận L trình báo về vụ việc nêu trên và giao nộp hai bộ hồ sơ đất giả mang tên Phan Thị Mỹ T và Đoàn Tiến A cùng hai biên lai thu thuế nhà, đất mang tên Đoàn Tiến A.

Ngày 11/8/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận L ra Quyết định trưng cầu số 59/QĐ-TCGĐ để trưng cầu Phòng K1, Công an thành phố Đ giám định bộ hồ sơ đất mang tên Phan Thị Mỹ T. Ngày 22/9/2020, Phòng K1, Công an thành phố Đ ra Kết luận giám định số 91/GĐ-TL với nội dung: Hình dấu có nội dung UBND phường H, quận L, Tp.Đà Nẵng trên tài liệu cần giám định so với hình dấu có nội dung UBND phường H, quận L, Tp . trên mẫu cần so sánh không do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang tên Phan Văn V trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Phan Văn V trên tài liệu mẫu so sánh không cùng do một người ký ra.

Ngày 11/8/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận L ra Quyết định trưng cầu số 60/QĐ-TCGĐ để trưng cầu Phòng K1, Công an thành phố Đ giám định bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A. Ngày 23/9/2020, Phòng K1, Công an thành phố Đ ra Kết luận giám định số 92/GĐ-TL với nội dung: Hình dấu có nội dung UBND phường H, quận L, Tp . trên tài liệu cần giám định so với hình dấu có nội dung UBND phường H, quận L, Tp . trên mẫu cần so sánh không do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang tên Phan Văn V trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Phan Văn V trên tài liệu mẫu so sánh không do cùng một người ký ra.

Ngày 14/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận L ra Quyết định trưng cầu số 709/QĐ để trưng cầu Phòng K1, Công an thành phố Đ giám định chữ viết và chữ ký của Đoàn Tiến A. Ngày 18/6/2024, Phòng K1, Công an thành phố Đ ra bản Kết luận giám định số 470/GĐ-TL xác định: chữ ký mang tên Đoàn Tiến A dưới các mục “Ký tên” và “Người xin giao đất” so với chữ ký của Đoàn Tiến A trên mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Chữ viết có nội dung “Đoàn Tiến A” dưới các mục “Ký tên” và “Người xin giao đất” so với chữ viết của Đoàn Tiến A trên mẫu so sánh không phải do cùng một người viết ra

Ngày 05/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận L ra Quyết định trưng cầu số 1181/QĐ-TCGĐ để trưng cầu Phòng K1, Công an thành phố Đ giám định chữ viết của Đoàn Tiến A, Nguyễn Thị H3, Nguyễn H1 và độ tẩy xóa, chỉnh sửa trên hai biên lai thuế giấy than mực màu xanh số 0045792 và số 0039608 mang tên Đoàn Tiến A. Kết luận giám định số 568/KL-KTHS ngày 17/7/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố Đ xác định: Chữ viết qua giấy than trên 02 tờ biên lai thu thuế đất mang tên Đoàn Tiến A so với chữ viết Đoàn Tiến A, Nguyễn Thi H2, Nguyễn H1 không phải do cùng một người viết ra; 02 tờ biên lai thu thuế mang tên Đoàn Tiến A đã bị tẩy xóa, sửa chữa.

Ngày 05/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận L ra Quyết định trưng cầu số 1182/QĐ-TCGĐ để trưng cầu Phòng K1, Công an thành phố Đ giám định chữ viết trên bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A và dấu gạch xéo trên bộ hồ sơ đất mang tên Phan Thị Mỹ T. Kết luận giám định số 567/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố Đ xác định: Không đủ cơ sở kết luận dấu gạch chéo mực màu xanh từ trên xuống dưới trên 02 tài liệu gồm Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và sơ đồ vị trí khu đất xin giao mang tên Phan Thị Mỹ T so với dấu gạch chéo của Nguyễn Thi H2, Nguyễn H1 là do cùng một người gạch ra; Chữ viết mực màu xanh trên 02 tài liệu gồm Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và sơ đồ vị trí khu đất xin giao mang tên Đoàn Tiến A không phải do Nguyễn Thi H2 và Nguyễn H1 viết ra.

Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định: Biên lai thu thuế nhà, đất số 0039608 (Mẫu CTT09A; Ký hiệu: DV/2009B) mang tên Đoàn Tiến A ghi ngày 18/6/2009 không có trong sổ bộ tại phường H. Mẫu biên lai này do Chi cục Thuế quận L phát hành và giao cho UBND phường H, quận L sử dụng vào ngày 08/3/2010. Theo thông tin trong sổ bộ và liên lưu tại Chi cục Thuế quận L (nay là Chi cục Thuế khu vực T2 – L) thì đây là số biên lai thu thuế của bà Phan Thị Mỹ T (nộp thuế vào ngày 04/4/2011). Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 0045792 (Mẫu CTT09B; Ký hiệu: SN/2012) mang tên Đoàn Tiến A ghi ngày 16/8/2012 không có trong sổ bộ tại phường H. Mẫu biên lai này do Chi cục Thuế quận L phát hành và giao cho UBND phường H, quận L sử dụng vào ngày 03/10/2012. Theo thông tin trong sổ bộ và liên lưu tại Chi cục Thuế quận L (nay là Chi cục Thuế khu vực T2 – L) thì đây là số biên lai thu thuế của bà Phan Thị Mỹ T (nộp thuế vào ngày 15/10/2012).

Quá trình điều tra, Nguyễn Thi H2 khai nhận có nhận xây dựng nhà ở giúp cho Đoàn Tiến A với số tiền 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, việc xây dựng không hoàn thành nên sau đó H2 đã hoàn trả tiền cho A, H2 không thừa nhận làm bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A và 02 tờ biên lai thu thuế mang tên Đoàn Tiến A cho A. Cơ quan CSĐT Công an quận L đã tiến hành đối chất giữa bị cáo Đoàn Tiến A và Nguyễn Thi H2 nhưng không giải quyết được các vấn đề mâu thuẫn trong lời khai. Bản thân bị cáo Đoàn Tiến A cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào về việc nhờ H2 làm bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A cho mình.

Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 (Một) bộ hồ sơ đất gồm: Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở mang tên Đoàn Tiến A có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
  • - 01 (Một) bộ hồ sơ đất gồm: Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở mang tên Phan Thị Mỹ T có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
  • - 01 (Một) Biên lai thu thuế nhà, đất số 0039608 (Mẫu CTT09A; Ký hiệu: DV/2009B) mang tên Đoàn Tiến A ghi ngày 18/6/2009.
  • - 01 (Một) Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 0045792 (Mẫu CTT09B; Ký hiệu: SN/2012) mang tên Đoàn Tiến A ghi ngày 16/8/2012.

Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đoàn Tiến A về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Tiến A phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Tiến A từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 48 đến 60 tháng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đoàn Tiến A thống nhất với Cáo trạng cũng như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội của bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, cụ thể: Bị cáo là người trực tiếp đến cơ quan công an trình báo sự việc và tự nguyện khai báo trước khi cơ quan công an xác định ra ai là người phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là tự thú; bị cáo luôn khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình phải nuôi 03 con chưa thành niên, mẹ già của bị cáo và mẹ vợ đang bị bệnh; bị cáo cũng là người đang trực tiếp thờ cúng Liệt sĩ Đoàn Viết C là bác ruột của bị cáo. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

Vào tháng 4 năm 2019, bị cáo Đoàn Tiến A đã thuê người khác làm cho mình một bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A với số tiền là 15.000.000 đồng. Khi nhận được bộ hồ sơ đất giả bị cáo đã trực tiếp ký chữ ký của mình vào mục “Ký tên” và “Người xin giao đất” của 02 tài liệu trong bộ hồ sơ giả gồm: 01 Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở mang tên Đoàn Tiến A và 01 Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở mang tên Đoàn Tiến A có nội dung ghi xác nhận của UBND phường H ghi ngày 05/12/2003.

Theo Kết luận giám định số 92/GĐ-TL ngày 23/9/2020 của Phòng K1, Công an thành phố Đ đối với bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A xác định: Hình dấu có nội dung UBND phường H, quận L, Tp.Đà Nẵng trên tài liệu cần giám định so với hình dấu có nội dung UBND phường H, quận L, Tp . trên mẫu cần so sánh không do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang tên Phan Văn V trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Phan Văn V trên tài liệu mẫu so sánh không do cùng một người ký ra. Theo Kết luận giám định số 470/GĐ-TL ngày 18/6/2024 của Phòng K1, Công an thành phố Đ xác định: chữ ký mang tên Đoàn Tiến A dưới các mục “Ký tên” và “Người xin giao đất” so với chữ ký của Đoàn Tiến A trên mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Tiến A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung “Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi bị cáo biết được 02 bộ hồ sơ đất mang tên mình và Phan Thị Mỹ T là giả thì bị cáo đã đến trình báo với Cơ quan CSĐT Công an quận L đồng thời tự nguyện khai báo toàn bộ sự việc liên quan và giao nộp hai bộ hồ sơ đất giả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là tự thú; bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ không có công ăn việc làm, có nhiều con còn nhỏ; bị cáo đang thờ cúng Liệt sỹ Đoàn Viết C (là bác ruột của bị cáo). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt.

[4] Xét hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện do vậy cần xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy 02 loại giấy tờ, tài liệu giả mà bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự thực chất là nằm trong một bộ hồ sơ 02 lá có nội dung không đúng về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, đã có chữ ký và con dấu; bị cáo không phải là người trực tiếp soạn thảo hay làm ra các loại giấy tờ này mà bị cáo chỉ ký vào các tài liệu này với tư cách là người xin giao đất. Bị cáo là người có nhu cầu mua đất để làm nhà ở, khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn H1 kèm theo bộ hồ sơ đất mang tên Phan Thị Mỹ T thì bị cáo không biết đây là giấy tờ giả, bị cáo đặt làm bộ hồ sơ đất mang tên mình chỉ nhằm mục đích chứng minh lô đất là của mình. Khi biết được lô đất bị cáo mua không được xây dựng nhà và các giấy tờ nhà đất là giả bị cáo đã đòi lại tiền nhưng không được nên đã chủ động trình báo với Cơ quan công an và giao nộp 02 bộ hồ sơ đất giả cho cơ quan công an. Thấy rằng bị cáo phạm tội có mức độ nên Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.

Xét bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có mẹ già và 03 con còn nhỏ chưa đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo là phù hợp và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bộ hồ sơ đất gồm: Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở mang tên Đoàn Tiến A có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; 01 (một) bộ hồ sơ đất gồm: Đơn xin giao đất để xây dựng nhà ở và Sơ đồ vị trí khu đất xin giao để xây dựng nhà ở mang tên Phan Thị Mỹ T có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; 01 (một) Biên lai thu thuế nhà, đất số 0039608 (Mẫu CTT09A; Ký hiệu: DV/2009B) mang tên Đoàn Tiến A ghi ngày 18/6/2009; 01 (một) Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 0045792 (Mẫu CTT09B; Ký hiệu: SN/2012) mang tên Đoàn Tiến A ghi ngày 16/8/2012 là vật chứng quan trọng trong vụ án có ý nghĩa định tội nên cần tiếp tục quy trữ trong hồ sơ vụ án đảm bảo cho việc xét xử và lưu trữ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề có liên quan đến vụ án:

[7.1] Đối với bộ hồ sơ đất giả mang tên Phan Thị Mỹ T, qua điều tra xác định bộ hồ sơ giả này là do bà Phan Thị Mỹ T và chồng là ông Nguyễn Văn K giao cho ông Mai Văn D khi chuyển nhượng lô đất cho ông D vào năm 2018, sau đó ông Mai Văn D chuyển nhượng lô đất cho ông Nguyễn H1 đã bàn giao bộ hồ sơ giả này cho ông H1, khi ông H1 chuyển nhượng lô đất cho bị cáo Đoàn Tiến A đã bàn giao bộ hồ sơ giả này cho bị cáo. Thấy rằng không có cơ sở để xác định hành vi làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả là bộ hồ sơ đất giả mang tên Phan Thị Mỹ T là hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự để không đề cập xử lý như Kết luận điều tra và Cáo trạng đã nhận định. Tuy nhiên, theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà Phan Thị Mỹ T và chồng là ông Nguyễn Văn K, do đó cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7.2] Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận L chưa chứng minh đối tượng trực tiếp làm giả bộ hồ sơ đất mang tên Đoàn Tiến A và 02 biên lai thu thuế mang tên Đoàn Tiến A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L sẽ tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

[7.3] Đối với ông Nguyễn H1 có hành vi giao cho bị cáo bộ hồ sơ đất giả mang tên Phan Thị Mỹ T khi mua bán chuyển nhượng đất với bị cáo nhưng không có căn cứ chứng minh ông H1 biết bộ hồ sơ này là giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

[7.4] Đối với việc mua bán, chuyển nhượng đất giữa bị cáo và ông Nguyễn H1, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xác định không có dấu hiệu hình sự của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do đó nếu có tranh chấp thì bị cáo và ông Nguyễn H1 có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tiến A phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 341; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Tiến A 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/12/2024). Giao bị cáo Đoàn Tiến A cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Đoàn Tiến A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đoàn Tiến A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận L;
  • - Chi cục THA dân sự quận L;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Tiến A phạm tội làm giả con dấu tài liệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger