Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điện
  • Ông Nguyễn Văn Kháng
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Xuân C, sinh năm 2006

Nơi sinh và nơi cư trú: Khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Xuân T và bà Lý Hồng V; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 27/10/2023 bị TAND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”;

Tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/8/2024, đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyên V1.

Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Văn H, sinh năm 1978;

Chị Trần Thị H1, sinh năm 1983;

Đều có địa chỉ: Phố N, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Anh Bùi Văn B, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1967;

Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Đều vắng mặt.

Người làm chứng:

Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Chị Cầm Thị M, sinh năm 2007;

Nơi thường trú: Bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Người giám hộ cho chị M: Ông Đỗ Tiến H3 – Bí thư Đoàn thanh niên xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2002;

Địa chỉ: Thôn T, Xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Chị Dương Thị L, sinh năm 2007;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Xuân C sinh năm 2006 ở Khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ, là lao động tự do. Ngày 30/4/2024, C đến thuê trọ tại phòng 301 khu nhà trọ của chị Phạm Thị H2, sinh năm 1973, ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Khoảng 10 giờ ngày 04/05/2024, khi C đang ở phòng trọ thì thấy anh Bùi Văn D, sinh năm 1993, ở xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình (là người thuê trọ tại phòng 302 cạnh phòng của C) đi làm về. Lúc này, C và anh D rủ nhau uống bia tại phòng anh D. Quá trình ngồi uống bia, C quan sát thấy anh D có để chùm chìa khóa xe máy ở sàn nhà gần chỗ C ngồi. Cả hai uống đến khoảng 13 giờ cùng ngày, anh D đi vệ sinh, lúc này C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của anh D. C lấy chùm chìa khóa trên rồi nói với anh D là về đi mua cơm. Sau đó, C đi xuống khu vực để xe tầng 1 tại khu trọ, C thấy 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54 của anh D, đầu xe hướng vào khu nhà trọ 3 tầng, đuôi xe hướng vào ngôi nhà ở của chị H2. Quan sát không có ai để ý, C liền dắt xe máy trên ra ngoài đường rồi khởi động nổ máy xe và điều khiển đến thuê phòng nghỉ tại Nhà nghỉ T3, thuộc thôn A, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Tại đây C mở cốp xe máy ra thì thấy trong cốp xe có để 01 giấy đăng ký xe máy trên mang tên Bùi Thị T1 và 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn D, C liền cầm căn cước công dân và Giấy đăng ký xe máy trên mang theo người. C đưa căn cước công dân của anh D cho anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2002, ở thôn T, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (là lễ tân tại Nhà nghỉ T3) để làm thủ tục thuê phòng nghỉ. Sau khi thuê phòng xong, C điều khiển xe mô tô trên mang theo giấy đăng ký xe máy đến cửa hàng mua bán xe máy Hùng H4, thuộc phố N, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, C gặp anh Vũ Văn H, sinh năm 1978, ở phố N, TT Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên là chủ cửa hàng. C nói với anh H để bán chiếc xe môtô vừa trộm cắp được nêu trên và nói dối xe vừa mua nhưng do xe không chính chủ nên anh H trả 13.000.000đ thì C không đồng ý bán và rời khỏi cửa hàng. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, do không còn tiền tiêu sài, nên C đã điều khiển chiếc xe máy trên quay lại cửa hàng mua bán xe máy của anh H để bán. Khi này C gặp chị Trần Thị H1, sinh năm 1983, ở phố N, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (là vợ anh H) để bán xe, chị H1 gọi điện cho anh H được biết đã kiểm tra xe nên đồng ý mua với giá 13.000.000 đồng. Chị H1 yêu cầu C viết giấy mua bán xe, C viết tên trên giấy mua bán là Nguyễn Văn D1, sinh năm 1993, ở xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi viết xong thì chị H1 yêu cầu chụp ảnh chân dung C cùng với chiếc xe máy đem bán và chụp căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn D1. Khi chị H1 chụp căn cước công dân chị H1 nghi ngờ C không giống trong ảnh nhưng C nói dối làm lâu rồi nên chị H1 tin tưởng là thật nên đã mua xe của C. Đến tối cùng ngày, anh H đã bán chiếc xe máy trên cho Bùi Văn B, sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã H, thị xã M, tỉnh Hưng Yên (làm nghề mua bán xe máy cũ) với giá 17.400.000 đồng. Đến sáng ngày 05/05/2024, anh B mở cốp xe phát hiện trong cốp xe có ghi số điện thoại 0962.290.xxx (số điện thoại của D1); anh B đã sử dụng số điện thoại 0868.159.xxx gọi vào số điện thoại trên; anh B hỏi D1 có phải chủ của chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54 hay không. D1 nói là đúng, anh B đã nói với D1 là mới mua lại được chiếc xe máy trên nên muốn D1 cung cấp giấy CCCD của bà Bùi Thị T1 để làm thủ tục sang tên đổi chủ. Anh D1 đã trao đổi cho anh B biết chiếc xe máy trên là tài sản anh D1 bị kẻ gian trộm cắp mất.

Ngày 05/5/2024, anh Bùi Văn D có đơn trình báo đến Công an xã L còn C bỏ trốn đến ngày 04/8/2024 thì bị bắt theo quyết định truy nã số 182 ngày 12/01/2024 của Cơ quan CSĐT – Công an huyện V1.

Ngày 05/05/2024, anh B đã tự nguyện giao nộp: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54, số khung: 1010LY296597, số máy: G3D4E0167631; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 030445 mang tên Bùi Thị T1, sinh năm 1967, địa chỉ ở B, Đ, L, Hòa Bình do Công an tỉnh H cấp ngày 21/08/2020; 01 giấy bán xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1 - 400.54, số khung: 1010LY296597, số máy: G3D4E0167631 ghi người bán là Nguyễn Văn D1; người mua là Vũ Văn H lập ngày 05/05/2024 và 01 giấy bán xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54, số khung: 1010LY296597, số máy: G3D4E0167631, người bán là Vũ Văn H, người mua là Bùi Văn B lập ngày 05/05/2024.

Tại kết luận định giá tài sản số 32 ngày 02/7/2024, kết luận: Tại thời điểm ngày 04/05/2024, chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54, số khung: 1010LY296597, số máy: G3D4E0167631, đăng ký lần đầu ngày 21/08/2021, có giá trị là 22.000.000 đồng.

Ngày 05/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V1 đã tiến hành thu giữ 04 tệp video gồm “Cổng 1.mp4”, “Cổng 2.mp4”, “Cửa 1.mp4” và “Nhà xe 1.mp4" (lưu trữ trong trong 01 đĩa DVD-R, màu vàng, nhãn hiệu MAXELL trong 01 phong bì thư dán kín, ký hiệu “VD HOA”) ghi lại hình ảnh Lê Xuân C trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54 của anh D1. Tiến hành cho anh H, H1 nhận diện hình ảnh của C trong các đoạn video thu giữ. Kết quả: anh H, chị H1 đều nhận ra và khẳng định hình ảnh Lê Xuân C trong video là người nam giới đã đến gặp và bán chiếc xe máy vào chiều ngày 04/05/2024. Tiến hành cho Lê Xuân C xem nội dung các đoạn video được thu giữ ở trên; C khẳng định nam giới xuất hiện trong các đoạn video đó là C. Tại Kết luận giám định số 230/KL-KTHS(KTS) ngày 21/08/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 tệp video gồm “Cổng 1.mp4”, “Cổng 2.mp4”, “Cửa 1.mp4” và “Nhà xe 1.mp4”.

Quá trình điều tra xác định: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Văn D là tài sản của anh D. Ngày 12/07/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V1 đã trả lại cho anh D toàn bộ tài sản, giấy tờ nêu trên, anh D đã nhận được tài sản, không có yêu cầu gì thêm. Đối với thẻ căn cước công dân mang tên Bùi Văn D mà Lê Xuân C đã làm mất, anh D tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì.

Đối với anh H, chị H1, anh B khi mua chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS: 28N1-400.54 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý. Sau khi biết chiếc xe trên là vật chứng của vụ án nên anh H chị H1 đã trả lại anh B số tiền 17.400.000 đồng. Anh H và chị H1 yêu cầu C bồi thường số tiền 13.000.000 đồng còn anh B không có yêu cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 125/CT-VKS, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân C từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Tổng hợp với hình phạt là 29 ngày cải tạo không giam giữ sẽ chuyển đổi bằng 09 ngày tù – tính theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo còn chưa chấp hành của bản án số 40/2023/HSST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ buộc bị cáo Lê Xuân C phải chấp hành chung là từ 01 năm 09 tháng 09 ngày tù đến 02 năm 09 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 28N1-400.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Văn D là tài sản của anh D, Cơ quan CSĐT Công an huyện V1 đã trả lại anh D toàn bộ tài sản và giấy tờ trên. Anh D đã nhận và không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lê Xuân C phải bồi thường cho anh Vũ Văn H và chị Trần Thị H1 số tiền 13.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Do không có tiền tiêu sài cá nhân khoảng 13 giờ ngày 04/5/2024 tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lê Xuân C đã thực hiện hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, BKS 28N1-400.54 có trị giá là 22.000.000 đồng của anh Bùi Văn D mang đi tiêu thụ lấy 13.000.000đ tiêu sài cá nhân thì sau đó bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây dư luận xấu. Ngày 27/10/2023, bị cáo đã bị TAND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, trở thành người công dân có ích cho xã hội mà trong thời gian thi hành án, bị cáo tiếp tục phạm tội cùng loại. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo mức án nghiêm khắc trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu mặc dù đã được cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo, khi trở về nơi cư trú không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 40/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Lê Xuân C 06 tháng cải tạo không giam giữ, chưa chấp hành xong hình phạt bị cáo lại phạm tội mới với lỗi cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về tổng hợp hình phạt: Do bị cáo phạm tội mới trong thời gian chấp hành hình phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ của bản án số 40/2023/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ là 03 ngày (Từ ngày 28/9/2023 đến ngày 30/9/2023) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Ngày 04/5/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Tính đến ngày phạm tội mới, bị cáo còn phải chấp hành 29 ngày cải tạo không giam giữ của bản án nêu trên. Do vậy, ngoài hình phạt của bản án do phạm tội lần này, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chấp hành thời gian chưa chấp hành hình phạt của bản án trước theo điểm b khoản 1 Điều 55 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung. Bị cáo còn phải chấp hành 29 ngày cải tạo không giam giữ của bản án trước nên đến nay sẽ chuyển đổi bằng 09 ngày tù – tính theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 28N1-400.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Văn D là tài sản của anh D, Cơ quan CSĐT Công an huyện V1 đã trả lại anh D toàn bộ tài sản và giấy tờ trên; Anh D đã nhận và không có ý kiến gì nên không Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Do không biết việc C trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 28N1-400.54 nên anh Vũ Văn H và chị Trần Thị H1 đã mua chiếc xe với giá 13.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H và chị H1, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh H và chị H1 số tiền 13.000.000 đồng.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 56; Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự;

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân C 01 ( một) năm 09 ( chín) tháng tù; Tổng hợp với 29 ngày cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành của bản án số 40/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, tương đương với 09 ngày tù (tính theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo) buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của cả hai bản án là 01 ( một) năm 09 ( chín) tháng 09 ( chín) ngày tù; Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Xuân C phải bồi thường cho anh Vũ Văn H và chị Trần Thị H1 số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Bị cáo Lê Xuân C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án, người được thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ( Phòng KTNV và THA)
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện;
  • - CQSCĐT Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo; Người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân C phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger