Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm

Ông Phạm Công Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Sĩ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

- Nguyễn Thị Hoàng O (tên gọi khác: không); Sinh ngày: 04/5/1990, tại thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Con ông: Nguyễn Văn T (s) và bà: Dương Thị P (s). Chồng: Nguyễn Ngọc H (sinh năm: 1990), có 02 người con.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 10.9.2024. Có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Nhà số F B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Vĩnh T1, sinh năm: 1999. Địa chỉ: 4 T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm: 1992. Địa chỉ: K T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 20.7.2024, Nguyễn Thị Hoàng O điều khiển xe mô tô biển số 43G1-563.09, chở theo con gái (05 tuổi) đến quán ăn "Cơm ngon - Bún chả A" - A H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng, do chị Nguyễn Thị Ngọc L (sinh năm: 1968; trú: Tổ F, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) làm chủ để ăn cơm. Khi thanh toán tiền, O thấy chị L có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, màu đỏ, dung lượng 128GB trong giỏ đựng chén đũa nên đã lén lút lấy trộm, giấu vào túi áo rồi ra về.

Sau khi trộm điện thoại, O về nhà cha mẹ ruột tại K T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng, O gặp em ruột là Nguyễn Hữu D thì O nói lượm được điện thoại, D nói O nên trả lại cho chủ. Sau đó, O nói với em họ là Trương Vĩnh T2 là có lượm được điện thoại và đưa cho T2 để nhờ tìm người bẻ khóa nhưng T2 chưa thực hiện được. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20.7.2024, O nhận thức được sai phạm nên tự lấy lại điện thoại đem đến quán chị L để trả lại nhưng chưa gặp được chị L. Lúc này, Công an phường B liên hệ yêu cầu đến làm việc nên O đến Công an phường làm việc và giao nộp điện thoại.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, màu đỏ, dung lượng 128GB, Imei 1 357356097393214, Imei 2: 357356097162794; 01 sim điện thoại 4G Viettel bị gãy, có số thuê bao là 0965.100.019.
  • + 01 xe mô tô hiệu PIAGGIO, màu trắng, biển số 43G1-563.09, số khung: RD8M82500HV003585, số máy: M82DM5004503.
  • + 01 áo khoác màu hồng, 01 váy chống nắng ca rô trắng đen, 01 áo thun màu trắng và 01 quần dài màu đen (áo quần O sử dụng lúc lấy trộm điện thoại).
  • - 01 đĩa CD, lưu giữ đoạn video dài 06 phút 08 giây, ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hoàng Oanh điều khiển xe đến và đi khỏi quán ăn tại A H.

Theo Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS ngày 10.8.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone XR nêu trên có trị giá 5.285.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, màu đỏ.

- Chuyển Chi cục THADS quận H bảo quản, chờ xử lý:

  • + 01 xe mô tô hiệu PIAGGIO, màu trắng, biển số 43G1-563.09, số khung: RD8M82500HV003585, số máy: M82DM5004503.
  • + 01 áo khoác màu hồng, 01 váy chống nắng ca rô trắng đen, 01 áo thun màu trắng và 01 quần dài màu đen (áo quần O sử dụng lúc lấy trộm điện thoại).

- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD, lưu giữ đoạn video dài 06 phút 08 giây, ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hoàng O điều khiển xe đến và đi khỏi quán ăn tại A H.

*Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Ngọc L đã nhận lại điện thoại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 133/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O mức án cải tại không giam giữ từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận H, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 20.7.2024, Nguyễn Thị Hoàng O điều khiển xe mô tô biển số 43G1-563.09, chở theo con gái (05 tuổi) đến quán ăn "Cơm ngon - Bún chả A" - A H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng, do chị Nguyễn Thị Ngọc L làm chủ để ăn cơm. Khi thanh toán tiền, O thấy chị L có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, màu đỏ, dung lượng 128GB trong giỏ đựng chén đũa nên đã lén lút lấy trộm, giấu vào túi áo rồi ra về. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O là người có sức khỏe lao động, nhưng vì ham muốn nhất thời có tiền để sử dụng cá nhân nên O đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại quên khoá tủ bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Ngọc L. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được sai phạm nên chủ động đến gặp bị hại để trả lại tài sản, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Hội đồng xét xử xét thấy Nguyễn Thị Hoàng O có nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết phải xử cách ly ra khỏi xã hội bắt chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo cải tạo không giam giữ, giao địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng thỏa đáng. Bị cáo O hiện công việc và thu nhập không ổn định nên HĐXX không khấu trừ thu nhập để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O.

Đối với Nguyễn Hữu D: Khi O về nhà gặp D đang ở nhà thì O nói lượm được điện thoại, D nói O nên trả lại cho chủ; Trương Vĩnh T2: O nói là có lượm được điện thoại và nhờ T2 tìm người mở khóa giúp nhưng T2 chưa thực hiện thì O lấy lại để trả lại cho bị hại. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận H không xử lý đối với D và T2 là có căn cứ.

[4] Về dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Ngọc L đã nhận lại điện thoại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O những tài sản cá nhân sau:

  • - 01 xe mô tô hiệu PIAGGIO, màu trắng, biển số 43G1-563.09, số khung: RD8M82500HV003585, số máy: M82DM5004503, 01 áo khoác màu hồng, 01 váy chống nắng ca rô trắng đen, 01 áo thun màu trắng và 01 quần dài màu đen là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội.
  • - Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD, lưu giữ đoạn video dài 06 phút 08 giây, ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hoàng O điều khiển xe đến và đi khỏi quán ăn tại A H.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt:

Nguyễn Thị Hoàng O 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát giáo dục. Gia đình Nguyễn Thị Hoàng O có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, quận C trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O không bị khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước nhưng phải thực hiện những nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Hoàng O những tài sản cá nhân sau:

  • - 01 xe mô tô hiệu PIAGGIO, màu trắng, biển số 43G1-563.09, số khung: RD8M82500HV003585, số máy: M82DM5004503, 01 áo khoác màu hồng, 01 váy chống nắng ca rô trắng đen, 01 áo thun màu trắng và 01 quần dài màu đen là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội.
  • - Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD, lưu giữ đoạn video dài 06 phút 08 giây, ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hoàng O điều khiển xe đến và đi khỏi quán ăn tại A H.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).

4. Về án phí:

Bị cáo Từ Anh V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2024). Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu;
  • - Viện KSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an quận Hải Châu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hải Châu;
  • - Nhà tạm giữ - Công an quận Hải Châu.
  • - Trại tạm giam – Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Minh Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger