TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
Bản án số: 160/2024/HS-ST Ngày 20-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên
Ông Nguyễn Xuân Giao
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt A (tên gọi khác: không), sinh ngày 12 tháng 3 năm 1983 tại Hòa Bình.
HKTT: tổ 15, phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1959, con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn); có 02 con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/8/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1980; trú tại: tổ B, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; HKTT: tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; cùng trú tại: tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày11/5/2024 do cần tiền chi tiêu nên Nguyễn Việt A, sinh năm 1983; trú tại: tổ E, phường T, thành phố H đã đem chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 28H1-352.05, giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1959 (bố đẻ Việt A) đến cầm cố tại cửa hàng vàng bạc Dũng Đ của ông Trần Văn D, sinh năm 1962 tại tổ B, phường T, thành phố H để lấy 10.000.000 đồng, hai bên không thỏa thuận lãi suất.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/5/2024 Nguyễn Việt A đến nhà anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1980 tại tổ B, phường T, thành phố H đặt vấn đề có chiếc xe BKS: 28H1-352.05 đang cầm cố tại nhà Dũng Đ muốn bán, anh H đồng ý mua.
Ngày 24/5/2024 Nguyễn Việt A liên hệ với anh H đến xem xe tại tiệm vàng Dũng Đ. Sau khi xem xe anh H đống ý mua xe với giá 12.000.000 đồng nên anh H đi về nhà lấy tiền ra đưa cho ông D, thỏa thuận mua bán bằng miệng có sự chứng kiến của ông D chủ tiệm vàng Dũng Đ. Anh H đưa cho ông D số tiền 12.000.000 đồng, ông D giữ lại 10.280.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng là tiền gốc Việt A vay, còn 280.000 đồng là tiền lãi cầm cố xe từ ngày 11/5/2024 đến ngày 24/5/2024. Ông D đưa cho Việt A 1.720.000 đồng và anh H nhận xe và giấy tờ xe. Sau đó H nhờ Việt A đi xe mô tô BKS: 28H1-352.05 về nhà mình ở tổ B, phường T, thành phố H để cất, còn anh H đi xe mô tô của mình. Khi đến nhà anh H, Việt A dắt xe vào dựng trong sân nhà anh H, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa, rồi anh H chở Việt A ra quán nước đầu ngõ của chị Trần Thị H1, sinh năm 1982, trú tại: tổ A, phường T, thành phố H, cả hai ngồi uống nước. Khoảng 15 phút sau anh H đi làm nên đi trước, Việt A ngồi lại quán nước, thấy sơ hở trong việc trông coi tài sản của anh H và biết anh H đi không quay về nhà. Việt A đã đi bộ từ quán nước vào nhà anh H, nhìn xung quanh không thấy có người nên mở cổng, đi vào sân, thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe, Việt A đã lén lút dắt chiếc xe mô tô BKS: 28H1-352.05 ra khỏi cổng rồi điều khiển xe đi về hướng Hà Nội – Hưng Yên.
Khoảng 16 giờ ngày 24/5/2024 anh H đi làm về phát hiện mất xe đến ngày 25/5/2024 đã đến cơ quan Công an trình báo. Ngày 23/8/2024 Nguyễn Việt A bị bắt tạm giam và thu giữ tang vật.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, BKS: 28H1-352.05, màu sơn: xanh – đen – bạc, số máy: JA39E0383378, số khung: 3909HY408242, tình trạng đã qua sử dụng, giá trị: 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
Tại bản kết luận giám định số 328/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong tệp tin video có tên “Video 2.mp4” gửi giám định. Trích xuất được 08 hình ảnh trong tệp tin video có tên “Video 2.mp4” gửi giám định số 1416/QĐ-ĐCSHS ngày 24/6/2024 của Cơ quan điều tra Công an thành phố H.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, BKS: 28H1-352.05, màu sơn: xanh – đen – bạc, số máy: JA39E0383378, số khung: 3909HY408242, tình trạng đã qua sử dụng
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Mạnh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 147/CT-VKSLS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố Nguyễn Việt A về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đề nghị giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Việt A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Việt A khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận định giá và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/5/2024 lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Việt A đã lén lút vào nhà anh H trộm cắp chiếc xe mô tô, BKS: 28H1-352.05 mà mình vừa bán cho anh H. Tài sản trộm cắp được định giá có giá trị là 9.000.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố H, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Nguyễn Việt A là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS: 28H1-352.05 mà bị cáo vừa bán cho anh H, xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản trộm cắp được thu hồi và trả lại cho bị hại...đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Mạnh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị V (bố mẹ đẻ của bị cáo Việt A) đồng sở hữu chiếc xe mô tô BKS: 28H1-352.05, do là tài sản chung, gia đình đã thống nhất từ trước giao cho Việt A có quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt nên việc Việt A mang xe đi cầm cố sau đó bán cho anh Nguyễn Mạnh H, ông L và bà V không đề nghị gì về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Đối với ông Trần Văn D, chủ cửa hàng vàng bạc Dũng Đ, ông D có dấu hiệu của hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1684 ngày 31/7/2024 để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 28H1-352.05 (kèm theo đăng ký xe) đã được trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 02 ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Việt A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội: Trộm cắp tài sản.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt A 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giam 23/8/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Việt A phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 160/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt A K1 Đ173
