Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-ST

Ngày: 20/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thảo

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hồng Hải

Ông Lâm Văn Vô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/HSST ngày 03/10/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quốc D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1984 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: A T, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: C4/19 P, Ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn H và bà: Võ Thị T (đã chết); Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 18/9/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng đến ngày 29/10/2021 bị cáo chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2024. (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Dương N, sinh năm 1955; địa chỉ: 9 N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 22/6/2024, Công an P, Quận E tuần tra đến trước nhà số C T, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê Quốc D đang đậu xe mô tô biển số 40M2-6786 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ bên trong mũ bảo hiểm màu trắng xanh móc vào bên trái xe mô tô có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, D khai nhận là ma túy cất giữu nhằm mục đích sử dụng do đó Tổ công tác đưa D cùng toàn bộ vật chứng nêu trên về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng: 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh trắng bên trong có 01 gói nylon chứ tinh thể không màu. Tại bản Kết luận giám định ma túy số 7578/KL-KTTH, ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: tinh thể không màu có khối lượng 0,3869 gram là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine.

01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu hồng, số IMEI 1: 356202093545657; số IMEI 2: 356203093545655 và 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen, số sêri 1: 355776103331191; sêri 2: 355776103831190.

01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 50M2-6786, số khung: C100M-0030568, Số máy: C100ME-0030568. Phòng PC09 kết luận số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh, biển số 50M2-6786 do Dương N đứng tên sở hữu, hiện nay Nghi vẫn sử dụng biển số trên. Xác minh số khung, số máy xe mô tô trên không có trong dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện đường bộ.

Bản cáo trạng số: 149/CT-VKS-Q5 ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Quốc D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lê Quốc D đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,3869g (không phẩy ba tám sáu chín gam) loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng và bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Quốc D với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Quốc D không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lê Quốc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lê Quốc D đã có hành vi cất giữ trái phép 0,3869g (không phẩy ba tám sáu chín gam) loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo D, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Quốc D là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[9] Về xử lý vật chứng:

Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký tên Lê Quốc D và hình dấu Công an P, Quận E (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3869g (không phẩy ba tám sáu chín gam) loại Methamphetamine. Sau giám định, tinh thể không màu còn lại được gói trong gói niêm phong 2350/2024 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 và cán bộ điều tra Trần Văn B. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu hồng, số IMEI 1: 356202093545657; số IMEI 2: 356203093545655 và 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen, số sêri 1: 355776103331191; sêri 2: 355776103831190. 02 chiếc điện thoại trên là tài sản cá nhân của bị cáo D, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

01 (một) nón bảo hiểm màu xanh trắng. Xét đây là vật chứng vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 50M2-6786, số khung: C100M-0030568, Số máy: C100ME-0030568. Bị cáo D khai mua xe của một người tên Đ không rõ lai lịch tại chợ A với giá 2.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán. Phòng PC09 kết luận số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh, biển số 50M2-6786 do Dương N đứng tên sở hữu, hiện nay Nghi vẫn sử dụng biển số trên. Xác minh số khung, số máy xe mô tô trên không có trong dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện đường bộ. Do biển số 50M2-6786 gắn trên chiếc xe mô tô D sử dụng để mua ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Xét chiếc xe mô tô có số khung: C100M-0030568, Số máy: C100ME-0030568 bị cáo có được không rõ nguồn gốc và hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 (ba) tháng. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Quốc D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký tên Lê Quốc D và hình dấu Công an P, Quận E (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3869g (không phẩy ba tám sáu chín gam) loại Methamphetamine. Sau giám định, tinh thể không màu còn lại được gói trong gói niêm phong 2350/2024 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 và cán bộ điều tra Trần Văn B, 01 Biển số: 50M2-6786 và 01 nón bảo hiểm màu xanh trắng.

Trả lại cho bị cáo Lê Quốc D: 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu hồng, số IMEI 1: 356202093545657; số IMEI 2: 356203093545655 và 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen, số sêri 1: 355776103331191; sêri 2: 355776103831190.

Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô số khung: C100M-0030568, Số máy: C100ME-0030568 trong thời hạn 03 (ba) tháng. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc D - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger