Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HS-ST.

Ngày: 31-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Ngọc và bà Trần Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 171/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 652/2024/TB-TA ngày 25/10/2024.

- Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm:

Bị cáo: Trần Ngọc H – sinh năm 1978 tại Đồng Nai.

(Tên gọi khác: Tèo Đ)

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định được) và bà Nguyễn Thị C – đã chết; Vợ: Bà Nguyễn Thị Mỹ L - 1983, có 01 người con sinh năm 2002; Tiền sự: không.

Tiền án: Tại Bản án số 320/HSST ngày 14/8/2002 bị TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (án phí hình sự và tiền bồi thường cho bị hại chưa chấp hành).

Nhân thân: Tại Bản án số 100/2014/HSST ngày 04/9/2014 bị TAND huyện Định Quán xử phạt 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (ngày 18/12/2014 đã chấp hành xong)

Bị bắt, tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

- Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm:

+ Bị hại: Ông Nguyễn Văn P - 1985.

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ngọc S - 1974.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, ông P và bà S có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc H có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích và có quen biết với bị hại ông Nguyễn Văn P.

Vào khoảng 19 giờ ngày 11/7/2023, sau khi bị hại ông P nghe bà Võ Thị Ngọc L1 (là bạn gái P) kể lại chuyện H nói xấu mình là “con hoang” nên P gọi điện thoại đến trách móc bị cáo và cả hai xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau đồng thời bị hại có lời lẽ xúc phạm bị cáo. Do bực tức nên bị cáo nói: “mày muốn đánh nhau thì nói mẹ đi” thì bị hại đồng ý và hẹn đến đầu đường vào xóm “Tình thương” thuộc ấp B, xã P để đánh nhau. Sau đó bị cáo vào nhà lấy 01 con dao phát cỏ bằng kim loại, dài khoảng 78cm và điều khiển xe mô tô biển số 51F1 - 1315 đến điểm hẹn. Khi đến nơi thì bị cáo dựng xe ở đường rồi đi bộ đến đứng đối diện với bị hại, rồi dùng tay phải cầm dao chém vào tay của bị hại, theo phản xạ bị hại đưa tay trái lên đỡ thì trúng vào khuỷa tay trái gây thương tích. Sau đó, bà L1 đến can ngăn thì bị cáo lấy xe máy đi về nhà và cất dấu con dao ở sau nhà bếp, còn bị hại được đưa đến Bệnh viện để điều trị và làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Hậu quả: Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1064/KLTTCT-TTPYĐN ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận ông Nguyễn Văn P bị thương tích như sau: Sẹo mặt sau vùng khuỷu trái kích thước 6,5x0,3cm tỉ lệ: 02%; Tổn thương thấu khớp khuỷu trái, đứt cơ duỗi cổ tay quay dài, cơ duỗi cổ tay quay ngắn, hạn chế vận động khuỷu trái, cẳng tay trái gấp duỗi được trong khoảng trên 5° → 145° tỉ lệ: 11%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 13%.

Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc

- Căn cứ bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0106/KLGĐCC-TTPYÐN ngày 20/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Cơ chế hình thành vết thương của bị hại như sau: Vết thương mặt sau vùng khuỷu trái để lại sẹo mặt sau vùng khuỷu trái kích thước 6,5x0,3cm, tổn thương thấu khuỷu trái, đứt cơ duỗi cổ tay quay dài, cơ duỗi cổ tay quay ngắn, hạn chế vận động khuỷ trái, cẳng tay trái gấp duỗi được trong khoảng trên 5 độ đến 145 độ. Tổn thương này do vật sắc tác động vào mặt sau vùng khuỷu trái với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải, từ sau ra trước, từ ngoài vào trong. Trong trường hợp nạn nhân bị tác động vào vùng đầu theo phản xạ tự nhiên nạn nhân sẽ đưa tay lên đỡ khi đó sẽ có chiều từ trên xuống dưới hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

Vật chứng vụ án: 01 con dao phát cỏ bằng kim loại, dài khoảng 78cm; mô tô biển số 51F1 – 1315.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chị gái bà Trần Thị Ngọc S đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 240/CT-VKSÐQ, ngày 08/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 con dao phát cỏ bằng kim loại, dài khoảng 78cm là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với xe mô tô biển số 51F1 – 1315 đứng tên bà Ngô Thị T, trú tại: số F, ấp B, xã B, huyện C, TP HCM bị cáo điều khiển do chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô trên nên tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự : Bị hại đã nhận đủ 15.000.000đ tiền bồi thường của bị cáo, tại phiên tòa không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, Kết luận giám định cơ chế tổn thương, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 11/7/2023, tại ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xuất phát từ việc hiểu lầm mà bị hại đã gọi điện thoại đến bị cáo và có lời lẽ xúc phạm dẫn đến hai bên cự cãi, phát sinh mâu thuẫn sau đó hai bên hẹn gặp để đánh nhau. Bị cáo đã dùng 01 con dao phát cỏ bằng kim loại, dài khoảng 78cm (là hung khí nguy hiểm) chém 01 nhát vào khuỷ tay trái của bị hại ông Nguyễn Văn P, gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 13%.

Do đó hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu về tội “Cố ý gây thương tích” đã bị xét xử vào năm 2014.

[6] Về hình phạt: Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống mà bị cáo đã dùng dao (là hung khí nguy hiểm) với lỗi cố ý trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây bất ổn hoang mang đến trật tự trị an ở địa phương. Mặt khác bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại và do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 con dao phát cỏ bằng kim loại, dài khoảng 78cm là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với xe mô tô biển số 51F1 – 1315 đứng tên bà Ngô Thị T, trú tại: số F, ấp B, xã B, huyện C, TP HCM bị cáo điều khiển do chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô trên nên tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

- Trong giai đoạn điều tra bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường số tiền 15.000.000đ cho bị hại, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H (tên gọi khác: Tèo Đầu Đ) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

-Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại, dài 78cm.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và bà S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Công an huyện ĐQ;
  • - Chi cục THADS huyện ĐQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 160/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 160/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: số 160 ngày 31.10.2024 Trần Ngọc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger